Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HS-ST

Ngày: 25/7/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Hải.

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Thuỷ và ông Vũ Anh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Dường A N - sinh ngày: 17/6/1990, tại huyện T, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dường Chống L và bà: Lồ V; có vợ là: Chíu Ứng Múi và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú ngày 25/12/2023, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Dường A N1: Bà Mai Thị L, sinh năm 1989, là Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q, thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q cho bị cáo N1, có mặt.

2. Họ và tên: Lỷ A V - sinh ngày: 14/7/1994, tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn Đ, xã Y, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý S và bà: Lồ T; vợ là: Vũ Thị Y và có một con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang và bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 01/12/2023 đến ngày 10/12/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn, hiện đang bị áp dụng biện pháp: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lý A V1: bà Phạm Thị L1, sinh năm 1976, là Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q, thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q cho bị cáo V1, văng mặt (có đơn xin xét xử văng mặt).

- Người làm chứng: Ông Lỷ Say S, sinh năm 1965, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dường A N và Lý A quen biết nhau từ lâu, sau đó Nhì quen một đối tượng tên A C người Trung Quốc (không rõ lai lịch, địa chỉ) qua mạng xã hội Z, A C đã nhắn tin thuê N chờ một người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, với giá 900 NDT. Nhì đã nhận lời sau đó đã thuê Lỳ A V1 chở người Trung Quốc từ huyện B đến thành phố M với giá 2.500.000 đồng, V1 đồng ý. Khoảng 14 giờ ngày 01/12/2023, V1 sử dụng xe ô tô biển kiểm soát 14A-524.54 của gia đình đi đến khu vực Mốc biên giới 1324(2), thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện B, đón CHEN TIAN FU (Trần Thiên P) là người Trung Quốc, đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày khi V1 và CHEN TIAN FU đi đến khu vực M biên giới 1322(2)-350m, thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện B, thì bị Đ biên phòng cửa khẩu H phối hợp cùng Công an huyện B, tuần tra tuyến biên giới đã phát hiện, bắt giữ.

Ngày 25/12/2023, Dường A N1 đến Cơ quan điều tra đầu thú.

Tại phiên tòa, Dường A và Lý A V1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên. Các bị cáo đều khai: vận chuyển người Trung Quốc để lấy tiền công nhưng chưa kịp lấy tiền công thì đã bị bắt giữ.

Người làm chứng ông Lý Say S vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại cơ quan điều tra có lời khai phù hợp với lời khai của các bị cáo về nội dung vụ án.

Tại Cáo trạng số 2442/CT- VKSQN-P1 ngày 14/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố: Dường A N và Lý A V1 về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiêm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Dường A N1 và Lỳ A V1 về tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Dường A N1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án;

- Áp dụng: khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo L2 A Vày từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ đi những ngày tạm giữ từ ngày 01/12/2023 đến ngày 10/12/2023.

Về vật chứng: đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, tịch thu tiêu huỷ 02 sim điện thoại. Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 14A-524.54 đã trả cho chủ sở hữu nên không đề cập lại.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

Quan điểm của các luật sư bào chữa cho bị cáo Dường A N và bị cáo Lý A V1: những người bào chữa cho các bị cáo có quan điểm đồng tình với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo, các bị cáo đều phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, là lao động chính trong gia đình, đều là người dân tộc sống ở vùng kinh tế khó khăn, phạm tội đều vì mục đích mưu sinh, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo V1 sau khi bị bắt đã thành khẩn khai ra đồng phạm của mình và có bố mẹ đẻ là người có công là dân công hoà tuyến được ghi nhận của Nhà nước, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo V1; bị cáo N đã ra đầu thú, bị cáo N phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo N. Đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa.

Tại phiên tòa các bị cáo đồng tình quan điểm của luật sư; các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và bàn luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng: các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện: tại phiên tòa bị cáo Dường A N1 và bị cáo Lỷ A V1 khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: khoảng 15 giờ 45 phút ngày 01/12/2023, tại khu vực Mốc biên giới 1322(2)-350m, thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, vì vụ lợi, Dường A và Lý A có hành vi tổ chức cho C1 (Trần Thiên P) người Trung Quốc, nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, thì bị Đồn biên phòng cửa khẩu H phát hiện, bắt giữ.

Hành vi nêu trên của bị cáo D A N và bị cáo Lý A V1 đã đủ yêu tố cấu thành tội: "Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép" quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực nhập cảnh, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần tuyên cho các bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và đồng thời có tác dụng giáo dục răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân: các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của chính quyền địa phương); quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi bị bắt bị cáo V1 đã tự nguyện khai ra đồng phạm của mình và có bố mẹ đều là người tham gia dân công hoà tuyến được hưởng chế độ theo Quyết định số 49/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; bị cáo N đã đầu thú, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về vai trò và mức hình phạt: vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo N là người thuê bị cáo V1 đi chờ người Trung Quốc từ biên giới nên giữ vai trò đầu vụ; bị cáo V1 là người giúp sức cho bị cáo N nên giữ vị trí tiếp theo.

Mặc dù bị cáo N là người giữ vai trò đầu vụ, nhưng bị cáo V1 là người trực tiếp thực hiện tội phạm và thực hiện tội phạm tích cực nên hai bị cáo này phải chịu mức hình phạt ngang nhau mới phù hợp với quy định của pháp luật.

Khi lượng hình, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, các bị cáo có nhân thân tốt, đều là người dân tộc thiểu số sống ở vùng nông thôn; có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, phạm tội cũng chỉ vì mục đích mưu sinh; chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội với vai trò giúp sức cho đối tượng A C; các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; lần đầu phạm tội và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Do đó không cần thiết phải bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù mà để bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình và xã hội trong một thời gian nhất định cũng đủ giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích.

[6] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi thu giữ của V1, bị cáo dùng vào việc liên lạc phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước; riêng 02 sim kèm theo điện thoại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe ô tô biển kiểm soát 14A-524.54, là tài sản của ông Lý Say S (bố của Lý A), ông S giao cho V1 sử dụng để phục vụ cho gia đình, ông S không biết V1 sử dụng để tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông S, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên cơ bản được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên mức hình phạt tù giam đối với các bị cáo mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có phần nghiêm khắc, vì vậy Hội đồng xét xử sẽ cải biện pháp thi hành đối với các bị cáo cho phù hợp với tính chất vụ án và để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Quan điểm của người bào chữa cho các bị cáo cơ bản phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Tuy nhiên với đề nghị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo N và áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo V1 là không phù hợp nên không được chấp nhận.

[9] Nội dung khác: đối với đối tượng A C, do N không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên không điều tra làm rõ được. Đối với C1 (Trần Thiên P) người Trung Quốc có hành vì nhập cảnh trái phép nhưng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này nên không xử lý hình sự về hành vi nhập cảnh trái phép, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q đã bàn giao cho Đồn biên phòng cửa khẩu H, xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 348; Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: các bị cáo: Dường A N và Lý A V1 phạm tội: "Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép".

Xử phạt:

1. Bị cáo Dường A N1 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Dường A N1 cho UBND xã P, huyện T, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

2. Bị cáo Lỷ A V1 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lý A V1 cho UBND xã Y, huyện T, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Dường A N1 và bị cáo Lỷ A V1 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Về xử lý vật chứng: áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh (12T) và tịch thu tiêu hủy 02 sim kèm theo điện thoại.

(Tình trạng như Biên bản giao vật chứng số 101 ngày 01/7/2024 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh).

Về án phí: áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Lý A V1 và Dường A N, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CQ ANĐT + CQ THAHS Công an tỉnh Q.Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Q.Ninh;
  • - TAND cấp cao + VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HS, THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Duy Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép

  • Số bản án: 84/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo: Dường A Nhì và Lỷ A Vày phạm tội: "Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger