Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HS-ST

Ngày: 25-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ.

Ông Nguyễn Ngôi Sao.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 25/02/2004 tại Lâm Đồng; hộ khẩu thường trú và cư trú: Số A Khúc T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1974 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981, hiện trú tại thôn E, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; gia đình: Có 02 chị em, bị cáo là con lớn nhất; chồng: Phạm Văn Q1, sinh năm 1991; con: Có 01 người con sinh năm 2023, chồng và con hiện đang cư trú tại số A Khúc T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 cho đến nay, có mặt.

2. Họ và tên: Trần Ngọc H1, sinh ngày: 11/4/2006 tại Lâm Đồng; hộ khẩu thường trú và cư trú: Số I Khúc T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B, sinh năm 1970 và con bà Đào Thị C, sinh năm 1974, hiện trú tại xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; gia đình: Có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất là bị cáo; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 cho đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Ngọc H1: Bà Mơ T - Là trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ ngày 26/12/2023 tại quán C1 số D P, phường L, thành phố B, Công an thành phố B bắt quả tang Trần Ngọc H1 đang tàng trữ 05 hộp khối hình vuông kích thước (17x17x10) cm có ký hiệu C0850, bên trong mỗi hộp có 49 ống phóng nghi là pháo nổ. Công an thành phố B tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong tang vật theo quy định.

Quá trình điều tra xác định được như sau: Ngày 30/11/2023, H1 nhận tin nhắn của Nguyễn Thị Ngọc Á qua ứng dụng Facebook với nội dung “có ai hỏi mua pháo thì alo, bán được cho người ta 1.300.000đ/hộp thì chị lấy em 1.200.000đ/hộp loại 49” thì H1 đồng ý. Ngày 24/12/2023, Á liên lạc với 01 người tên M (chưa rõ lai lịch) và mua của M 09 hộp pháo với giá 900.000đ/hộp. Đến ngày 26/12/2023 có người sử dụng tài khoản Facebook tên “Bảo T1” kết bạn với H1 và nhắn tin hỏi mua pháo, sau đó H1 cho số điện thoại thì người tên T1 kết bạn Z và trao đổi về việc mua pháo. T1 hỏi mua 03 hộp pháo loại 49 ống phóng, H1 đồng ý bán cho T1 với giá 1.400.000đ/01 hộp thì T1 hẹn H1 đến quán C1 số D P, phường L, thành phố B để giao dịch mua bán. Sau đó, Hoàng liên 1 với Á nói về việc có người hỏi mua 03 hộp pháo, H1Á thống nhất bán pháo với giá 1.400.000đ/01 hộp, sau khi giao pháo cho khách thì H1 giao về cho Á 1.300.000đ/01 hộp, còn H1 được hưởng 100.000đ/01 hộp. Sau khi trao đổi về việc bán pháo thì H1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 49K1-739.56 đến nhà bố mẹ của Á ở thôn E, xã L, huyện B để lấy pháo. Khi H1 đến thì Á không có ở đó nhưng Á nói H1 vào nhà lấy pháo ở vị trí gần tủ lạnh trong phòng ăn, theo chỉ dẫn của Á thì H1 lấy 03 hộp pháo rồi mang đến quán cà phê H2 để giao cho T1. Khi đến quán cà phê thì T1 hỏi mua thêm 02 hộp pháo nữa và thỏa thuận giá mua 05 hộp pháo là 1.300.000đ/01 hộp. Thấy vậy thì H1 tiếp tục liên lạc với Á rồi đến nhà bố mẹ Á ở thôn E, xã L, huyện B lấy thêm 02 hộp pháo để giao cho T1. Khi quay lại quán C1 để giao pháo cho T1 thì H1 bị Công an thành phố B phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật như trên.

Ngày 26/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố B ban hành lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của H1Á nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hoạt động tàng trữ, buôn bán hàng cấm. Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố B ban hành lệnh khám xét khẩn cấp nhà của bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981 tại thôn E, xã L, huyện B (là mẹ của Á) thu giữ được tại khu vực phòng ăn 03 hộp khối hình vuông kích thước (17x17x10)cm, bên trong mỗi hộp đều có 49 ống phóng nghi là pháo nổ; tại khu vực phòng ngủ của Á phát hiện trong ngăn kéo tủ thứ hai từ dưới lên của tủ gỗ đựng đồ có 01 khối hộp hình vuông kích thước (17x17x10)cm, bên trong hộp có 49 ống phóng nghi là pháo nổ. Cơ quan điều tra đã lập biên bản, thu giữ và niêm phong tang vật theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số: 1680 ngày 12/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L xác định: Toàn bộ 09 khối hình hộp chữ nhật chứa trong 02 thùng giấy ký hiệu A1, A2 bên trong mỗi khối chứa 49 viên giấy hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 2,3cm, cao 10cm gửi giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, tổng khối lượng là 16,2kg, trong đó khối lượng 04 khối trong thùng giấy A1 là 7,2kg, khối lượng 05 khối trong thùng giấy A2 là 09kg.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu là bà Đào Thị C, sinh năm 1974, trú tại số I Khúc T, xã Đ, thành phố B (là mẹ của H1) 01 xe mô tô màu trắng nhãn hiệu Honda Vision biển số 49K1-73956. Hiện còn đang tạm giữ 09 hộp khối hình vuông kích thước (17x17x10) cm có ký hiệu C0850 còn lại sau giám định, 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max gắn sim số 0346071882 của H1 sử dụng để giao dịch buôn bán pháo nổ, 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh dương gắn sim số 0868231232 của Á sử dụng để giao dịch buôn bán pháo nổ.

Cáo trạng số: 74/CT-VKSBL ngày 09/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc truy tố Nguyễn Thị Ngọc ÁTrần Ngọc H1 về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc ÁTrần Ngọc H1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, các Điều 35, 58, 90, 91, 99 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Ngọc H1.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ánh N từ 120.000.000đ đến 140.000.000đ.

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H1 từ 100.000.000đ đến 120.000.000đ.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng:

+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max gắn sim số 0346071882 thu giữ của bị cáo H1; 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh dương gắn sim số 0868231232 của bị cáo Á sử dụng để giao dịch buôn bán pháo nổ.

+ Tịch thu tiêu hủy: 09 (chín) hộp khối hình vuông kích thước (17x17x10) cm, có ký hiệu C0850 còn lại sau giám định được dán niêm phong.

Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Bà Mơ T là người bào chữa cho bị cáo Trần Ngọc H1 trình bày lời bào chữa: Bà thống nhất với tội danh, khung hình phạt theo truy tố của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, bị cáo H1 khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên chưa nhận thức đầy đủ về pháp luật, chưa hình dung được hậu quả do hành vi của mình gây ra. Bị cáo không phải là người khởi xướng mà do người đã thành niên rủ rê; bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, hiện đang còn đi học (đã lên lớp 12), thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, đề nghị xử phạt bị cáo ở mức nhẹ nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ. Có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 26/12/2023, tại quán C1 số DP, phường L, thành phố B, Nguyễn Thị Ngọc ÁTrần Ngọc H1 đã thực hiện hành vi bán hàng cấm là 05 hộp pháo nổ với khối lượng là 09kg cho người khác để kiếm lời thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, quá trình khám xét tại nhà mẹ của Nguyễn Thị Ngọc Á ở thôn E, xã L, huyện B, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ được 04 hộp pháo nổ với khối lượng là 7,2kg của Nguyễn Thị Ngọc Á tàng trữ để nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời. Trong khi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Vì vậy, hành vi nêu trên của Nguyễn Thị Ngọc ÁTrần Ngọc H1 đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • Nhân thân: Các bị cáo là người có nhân thân tốt.
  • Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về vai trò của các bị cáo: Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Á là người trực tiếp mua pháo về tàng trữ, giao cho bị cáo H1 bán 05 hộp pháo nổ, còn bị cáo H1 là người trực tiếp tìm người mua, lấy pháo từ bị cáo Á để giao cho người mua và thu tiền về trả cho bị cáo Á để hưởng tiền công. Do đó, đối với 05 hộp pháo nổ có tổng khối lượng 09kg thì hai bị cáo có vai trò ngang nhau. Tuy nhiên, bị cáo Á còn tàng trữ riêng 04 hộp pháo nổ với tổng khối lượng 7,2kg nhằm để bán kiếm lời. Vì vậy, đối với vụ án này thì tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Á cao hơn bị cáo H1.

[5] Về hình phạt chính: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước trong sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm. Pháo nổ là mặt hàng cấm (trừ pháo hoa do Bộ Q2 sản xuất), do vậy tất cả hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ mặt hàng này sẽ bị xử lý hình sự khi đảm bảo yếu tố định lượng. Để đấu tranh hiệu quả với “nạn pháo lậu”, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo việc răn đe, giao dục đối với bị cáo và nhằm tăng tính răn đe, cảnh báo, phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, các bị cáo phạm tội lần đầu, số lượng hàng cấm không lớn, chưa thu lợi bất chính, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo Á hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, còn bị cáo H1 khi phạm tội thì chưa đủ 18 tuổi nhưng có tài sản riêng từ khoản tiền đi làm thêm và được bố mẹ cho (trước khi phiên tòa diễn ra bị cáo đã nộp 100.000.000đ để đảm bảo thi hành án). Mặc khác, mục đích phạm tội của các bị cáo là nhằm thu lợi bất chính nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà xử phạt tiền cũng đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng:

- Đối với 09 hộp khối hình vuông kích thước 17 x 17 x 10cm có ký hiệu C0850 còn lại sau giám định. Xét thấy đây là tang vật hoàn lại sau giám định, thuộc mặt hàng cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max gắn sim số 0346071882 của H1 và 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh dương gắn sim số 0868231232 của Á. Xét thấy, đây là công cụ để các bị cáo giao dịch buôn bán pháo nổ vì vậy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác:

- Đối với đối tượng tên M là người mà Nguyễn Thị Ngọc Á khai nhận đã bán 09 hộp pháo nổ cho Á và đối tượng tên T1 là người thỏa thuận giao dịch mua bán pháo nổ với H1. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của những người này nên Cơ quan điều tra - Công an thành phố B tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý là có căn cứ và đúng pháp luật.

- Đối với ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981, hiện cùng cư trú tại thôn E, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (là bố mẹ của Á). Quá trình điều tra xác định ông Q, bà H không biết, không giúp sức cho bị cáo Á thực hiện hành vi buôn bán hàng cấm nên Cơ quan điều tra - Công an thành phố B không xem xét xử lý hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc ÁTrần Ngọc H1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
    • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 35, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng).
    • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 35, 58, 90, 91, 99 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H1 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Nhưng được trừ vào số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) mà anh Trần Văn T2 đã tạm nộp theo biên lai thu tiền số 0002152 ngày 25/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc.
  2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • * Tịch thu sung Ngân sách nhà nước:
      • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dương, số máy MLL93VN/A, số seri C4XQ6NY0JK, số IMEI 356189753979435, gắn sim điện thoại số 0868.231.xxx của Nguyễn Thị Ngọc Á (đã qua sử dụng).
      • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, số IMEI 352840114051553, gắn sim điện thoại số 0346.071.xxx của Trần Ngọc H1 (đã qua sử dụng).
    • * Tịch thu tiêu hủy:
      • - 05 (năm) hộp khối hình chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài và dòng chữ nội dung “C0850”; bên trong mỗi khối chứa 47 (bốn mươi bảy) viên giấy hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 2,3cm, cao 10cm được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra. Tất cả chứa trong thùng giấy được dán niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký ghi tên “Ngô Thanh T3”, “Nguyễn Đức H3” và hình dấu tròn đỏ có nội dung “CÔNG AN TỈNH LÂM ĐỒNG - PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”.
      • - 04 (bốn) hộp khối hình chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài. Trong đó, ba (03) khối có dòng chữ “C0850” và một (01) khối không có nhãn; bên trong mỗi khối chứa 47 (bốn mươi bảy) viên giấy hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 2,3cm, cao 10cm được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra. Tất cả chứa trong thùng giấy được dán niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký ghi tên “Ngô Thanh T3”, “ Nguyễn Đức H3” và hình dấu tròn đỏ có nội dung “CÔNG AN TỈNH LÂM ĐỒNG - PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”.

    (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).

  3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc ÁTrần Ngọc H1, mỗi người phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng (2);
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (1);
  • - VKSND TP. Bảo Lộc (1);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (1);
  • - Công an TP. Bảo Lộc (1);
  • - Chi cục THA dân sự TP. Bảo Lộc (1);
  • - Bị cáo (2);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ninh Khắc Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự - buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 84/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ánh N và đồng phạm phạm tội buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger