|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 84/2024/HS-ST Ngày: 22 – 11 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Long.
Thẩm phán: Ông Phạm Quốc Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Nho;
Ông Phan Minh Á;
Bà Phan Thị Thanh Sen.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thái Ngọc Nhật - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Bùi Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thu B, sinh ngày 02/01/1977, tại huyện T, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: nông; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Tin lành; trình độ học vấn: 5/12; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Bùi Thị V; có chồng là Nguyễn H và có 03 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thu B theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng: Luật sư Bùi Bá D – thuộc Văn phòng L4 – Đoàn Luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: D N, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
* Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1978. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Phạm Thị H2, sinh năm: 1957. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị K, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Đoàn Thị D1, sinh năm: 1972. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Phan Thị H3, sinh năm: 1965. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Huỳnh Thị Bích T1, sinh năm: 1976. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Lương Thị Lệ T2, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Mai H4, sinh năm: 1971. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm: 1963. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Trần Thị T3, sinh năm: 1961. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Phan Thị T4, sinh năm: 1991. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Lê Thị Á, sinh năm: 1993. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Phương T5, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Võ Thị Cẩm V1, sinh năm: 1970. Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Võ Thị T6, sinh năm: 1972. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Đoàn Thị Kim P, sinh năm: 1982. Địa chỉ: T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm: 1977. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H5, sinh năm: 1986. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T7, sinh năm: 1973. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Huỳnh Thị Minh L, sinh năm: 1992. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Vũ N, sinh năm: 1996. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H6, sinh năm: 1979. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Á1, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Lê Thị P2, sinh năm: 1972. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thúy Á2, sinh năm: 1974. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Mai Thị Mỹ L1, sinh năm: 1985. Địa chỉ: xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Phạm Thị T8, sinh năm: 1977. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thu H7, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Lê Thị Ngọc S2, sinh năm: 1967. Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Lê Thị T9, sinh năm: 1967. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Triệu Thị T10, sinh năm: 1959. Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Trịnh Thị Kim Y, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Mai Thị T11, sinh năm: 1974. Địa chỉ: khối phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Bùi Thị Thanh P3, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Mai Thị Phương D2, sinh năm: 1976. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Đỗ Thị L2, sinh năm: 1985. Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Đặng Thị P4, sinh năm; 1992. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Lê Thị T12, sinh năm: 1965. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Võ Thị T13, sinh năm: 1973. Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Ngô Thị T14, sinh năm: 1974. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Võ Thị P5, sinh năm: 1974. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Phạm Thị T15, sinh năm: 1994. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Mai Thị D3, sinh năm: 1969. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Dương Thị H8, sinh năm: 1974. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Hoài C, sinh năm: 1955. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Kim S3, sinh năm: 1974. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Trần Thị H9, sinh năm: 1978. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị Kim L3, sinh năm: 1986. Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Kim T16, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Đoàn Thị V2, sinh năm: 1964. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bà Lê Thị Kim D4, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà P: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Võ Thị T17, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Đỗ Thị Kim C1, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T18, sinh năm 1977. Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị C2, sinh năm 1971. Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2016 đến 2019, Nguyễn Thị Thu B đã nhiều lần tổ chức biêu hụi cho nhiều người ở xã T và một số địa phương lân cận tham gia. Quá trình tổ chức biêu hụi, do thiếu sự quản lý nên dẫn đến việc thiếu nợ tiền biêu của nhiều người. Cuối năm 2019, Nguyễn Thị Thu B mất khả năng chi trả. Để có tiền chi trả tiền biêu cho các thành viên tham gia chơi biêu và các khoản nợ trước đó, đầu năm 2020 (âm lịch) Nguyễn Thị Thu B đã nảy sinh ý định thông qua việc tổ chức biêu hụi không đúng quy định để chiếm đoạt tiền góp biêu của những người chơi biêu. Do đã nhiều lần tổ chức biêu hụi nên Nguyễn Thị Thu B dễ dàng rủ rê, mời gọi được nhiều người chơi biêu. Để chiếm đoạt được tiền góp biêu của những người chơi biêu, Nguyễn Thị T7 Ba không tạo ra dây biêu cụ thể, không tổ chức họp biêu, đấu biêu, không để những người đã tham gia chơi biêu biết nhau và kiểm chứng thông tin. Để mọi người tin tưởng tham gia, Nguyễn Thị Thu B đã tự đưa ra thông tin không có thật về dây biêu (số lượng chân biêu, số lượng thành viên tham gia, người đã được nhận biêu và thời gian trút ống). Tiền đóng biêu hằng tháng của những người chơi biêu, Nguyễn Thị Thu B chiếm đoạt sử dụng vào việc cá nhân rồi nói với các thành viên chơi biêu là kỳ biêu tháng này đã có người đấu biêu để hốt biêu với mức lãi suất do B đưa ra. Để thành viên chơi biêu tin tưởng, hằng tháng, sau khi nhận tiền góp biêu của những người chơi biêu, Nguyễn Thị Thu B đều trả cho họ phần tiền lãi với tỷ lệ thấp nhất là 10% trên tổng số tiền biêu mỗi thành viên góp trong tháng và thông báo đây là tiền lãi biêu mà người hốt biêu trả cho thành viên khác trong dây biêu. Trường hợp trong tháng nếu có người xin đấu biêu, lĩnh biêu, phần lớn Nguyễn Thị Thu B đều không đồng ý và đưa ra nhiều lý do như trong tháng đã có thành viên khác đấu biêu với lãi suất cao nên để họ hốt trước. Để người xin tham gia đấu biêu tin tưởng, Nguyễn Thị Thu B đã chi cho người này số tiền lãi cao hơn mức 10% và hứa sẽ bố trí cho hốt vào kỳ sau hoặc nói họ chờ trút ống (kết thúc) để được nhận lãi nhiều...Trong trường hợp không thể từ chối yêu cầu lĩnh biêu của thành viên, Nguyễn Thị Thu B đồng ý cho họ được lĩnh biêu với số tiền lãi do Nguyễn Thị Thu B tự quyết định. Cuối năm 2020 (âm lịch), Nguyễn Thị Thu B nhận thấy số tiền nợ biêu ngày càng nhiều, tiếp tục đưa ra thông tin gian dối với các thành viên tham gia chơi biêu ở gần đến thời điểm trút ống, rằng: dây biêu tăng thêm thành viên nên thời gian trút ống lùi lại, mục đích để kéo dài thời gian trút ống và chiếm đoạt thêm tiền đóng biêu của những người tham gia. Bằng thủ đoạn nêu trên bất kỳ ai muốn tham gia chơi biêu vào thời điểm nào, mức tiền bao nhiêu, Nguyễn Thị Thu B cũng tiếp nhận. Đến tháng 02/2021 (âm lịch), do mất khả năng chi trả tiền khi các dây biêu đến thời điểm trút ống cùng lúc, Nguyễn Thị Thu B đã tuyên bố vỡ biêu, không trả lại tiền biêu cho các thành viên và bỏ đi khỏi địa phương.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra xác định: Từ tháng Giêng năm 2020 (âm lịch) đến tháng 02/2021 (âm lịch), Nguyễn Thị Thu B đã lôi kéo nhiều người ở xã T và các địa phương khác tham gia chơi biêu. Nguyễn Thị Thu B đã nhận tiền góp biêu 94 người tham gia chơi biêu và chiếm đoạt tiền góp (đóng) biêu của 52 người đủ cơ sở xác định, gồm:
- Bà Nguyễn Thị H1: Tổng số tiền bà H1 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 51.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà H1 10.200.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà H1 số tiền 40.800.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị T: Tổng số tiền bà T đóng biêu và bị chiếm đoạt là 135.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T 33.050.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T số tiền 101.950.000 đồng.
- Bà Phạm Thị H2: Tổng số tiền bà H2 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 81.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà H2 18.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà H2 số tiền 63.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị K: Tổng số tiền bà Kim Đ biêu và bị chiếm đoạt là 39.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà K 3.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà K số tiền 36.000.000 đồng.
- Bà Đoàn Thị D1: Tổng số tiền bà D1 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 24.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà D1 8.500.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà D1 số tiền 15.500.000 đồng.
- Bà Phan Thị H3: Tổng số tiền bà H3 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 27.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà H3 6.200.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà H3 số tiền 20.800.000 đồng.
- Bà Huỳnh Thị Bích T1: Tổng số tiền bà T1 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 33.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T1 6.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T1 số tiền 27.000.000 đồng.
- Bà Lương Thị Lệ T2: Tổng số tiền bà T2 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 45.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T2 13.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T2 số tiền 32.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Mai H4: Tổng số tiền bà H4 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 3.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà H4 1.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà H4 số tiền 2.000.000 đồng
- Bà Nguyễn Thị S1: Tổng số tiền bà S1 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 72.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà S1 18.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà S1 số tiền 54.000.000 đồng.
- Bà Trần Thị T3: Tổng số tiền bà T3 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 39.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T3 14.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T3 số tiền 25.000.000 đồng.
- Bà Phan Thị T4: Tổng số tiền bà T4 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 72.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T4 22.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T4 số tiền 50.000.000 đồng.
- Bà Lê Thị Á: Tổng số tiền bà Á đóng biêu và bị chiếm đoạt là 51.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà Á 15.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà Á số tiền 36.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Phương T5: Tổng số tiền bà T5 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 54.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T5 11.800.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T5 số tiền 32.200.000 đồng.
- Bà Võ Thị Cẩm V1: Tổng số tiền bà V1 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 39.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà V1 12.736.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà V1 số tiền 26.264.000 đồng.
- Bà Võ Thị T6: Tổng số tiền bà T6 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 15.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T6 4.400.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T6 số tiền 10.060.000 đồng.
- Bà Đoàn Thị Kim P: Tổng số tiền bà P đóng biêu và bị chiếm đoạt là 154.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà P 35.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà P số tiền 119.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị P1: Tổng số tiền bà P1 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 16.500.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà P1 4.045.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà P1 số tiền 12.455.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị H5: Tổng số tiền bà H5 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 57.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà H5 24.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà H5 số tiền 33.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị T7: Tổng số tiền bà T7 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 30.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T7 6.290.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T7 số tiền 24.710.000 đồng.
- Bà Huỳnh Thị Minh L: Tổng số tiền bà L đóng biêu và bị chiếm đoạt là 36.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà L 13.100.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà L số tiền 22.900.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Vũ N: Tổng số tiền bà N đóng biêu và bị chiếm đoạt là 58.500.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà N 21.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà N số tiền 37.500.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị H6: Tổng số tiền bà H6 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 19.500.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà H6 4.500.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà H6 số tiền 15.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Á1: Tổng số tiền bà Á đóng biêu và bị chiếm đoạt là 12.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà Á một phần tiền đã chiếm đoạt và hiện còn chiếm đoạt của bà Á số tiền 9.400.000 đồng.
- Bà Lê Thị P2: Tổng số tiền bà P2 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 12.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà P2 2.400.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà P2 số tiền 9.600.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Thúy Á2: Tổng số tiền bà Á2 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 12.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà Á2 1.800.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà Á2 số tiền 10.200.000 đồng.
- Bà Mai Thị Mỹ L1: Tổng số tiền bà L1 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 90.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà L1 5.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà L1 số tiền 85.000.000 đồng.
- Bà Phạm Thị T8: Tổng số tiền bà T8 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 27.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T8 5.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T8 số tiền 22.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị H4: Tổng số tiền bà H4 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 36.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà H4 9.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà H4 số tiền 27.000.000 đồng.
- Bà Lê Thị Ngọc S2: Tổng số tiền bà S2 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 138.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà S2 45.981.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà S2 số tiền 92.019.000 đồng.
- Bà Lê Thị T9: Tổng số tiền bà T9 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 30.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T9 7.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T9 số tiền 23.000.000 đồng.
- Bà Triệu Thị T10: Tổng số tiền bà T10 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 45.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T10 8.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T10 số tiền 37.000.000 đồng.
- Bà Trịnh Thị Kim Y: Tổng số tiền bà Y đóng biêu và bị chiếm đoạt là 18.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà Y 3.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà Y số tiền 15.000.000 đồng.
- Bà Mai Thị T11: Tổng số tiền bà T11 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 36.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T11 6.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T11 số tiền 30.000.000 đồng.
- Bà Bùi Thị Thanh P3: Tổng số tiền bà P3 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 19.500.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà P3 4.500.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà P3 số tiền 15.000.000 đồng.
- Bà Mai Thị Phương D2: tổng số tiền bà D2 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 18.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà D2 1.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà D2 số tiền 17.000.000 đồng.
- Bà B1 Đỗ Thị L2: Tổng số tiền bà L2 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 19.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà L2 5.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà L2 số tiền 14.000.000 đồng.
- Bà Đặng Thị P4: Tổng số tiền bà P4 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 19.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà P4 2.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà P4 số tiền 17.000.000 đồng.
- Bà Lê Thị T12: Tổng số tiền bà T12 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 111.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T12 62.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T12 số tiền 49.000.000 đồng.
- Bà Võ Thị T13: Tổng số tiền bà T13 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 12.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T13 500.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T13 số tiền 11.500.000 đồng.
- Bà Ngô Thị T14: Tổng số tiền bà T14 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 12.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T14 2.500.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T14 số tiền 9.500.000 đồng.
- Bà Võ Thị P5: Tổng số tiền bà P5 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 12.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà P5 2.500.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà P5 số tiền 9.500.000 đồng.
- Bà Phạm Thị T15: Tổng số tiền bà T15 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 3.000.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà T15 1.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà T15 số tiền 2.000.000 đồng.
- Bà Mai Thị D3: Tổng số tiền bà D3 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 22.500.000 đồng. Sau khi bị tố giác, Nguyễn Thị Thu B đã trả cho bà D3 2.000.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt của bà D3 số tiền 20.500.000 đồng.
- Bà Dương Thị H8: Tổng số tiền bà H8 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 6.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Hoài C: Tổng số tiền bà C đóng biêu và bị chiếm đoạt là 4.500.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Kim S3: Tổng số tiền bà S3 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 51.000.000 đồng.
- Bà Trần Thị H9: Tổng số tiền bà H9 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 3.000.000 đồng.
- Trần Thị Kim L3: Tổng số tiền bà L3 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 6.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Kim T16: Tổng số tiền bà T16 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 81.000.000 đồng.
- Bà Đoàn Thị V2: Tổng số tiền bà V2 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 9.000.000 đồng.
- Bà Lê Thị Kim D4: Tổng số tiền bà D4 đóng biêu và bị chiếm đoạt là 9.000.000 đồng.
Thông qua việc tổ chức chơi biêu không đúng quy định pháp luật, Nguyễn Thị Thu B đã chiếm đoạt của 52 người tham gia chơi biêu với tổng số tiền 2.025.000.000 đồng (hai tỷ không trăm hai mươi lăm triệu). Sau khi bị tố cáo, từ năm 2021 đến khi bị bắt tạm giam, Nguyễn Thị Thu B đã trả lại cho 44 người với tổng số tiền là 442.142.000 đồng (bốn trăm bốn mươi hai triệu một trăm bốn mươi hai nghìn đồng). Hiện còn chiếm đoạt số tiền 1.582.858.000 đồng (một tỷ năm trăm tám mươi hai triệu tám trăm năm mươi tám nghìn đồng). Số tiền chiếm đoạt được, Nguyễn Thị Thu B đã sử dụng vào việc trả lãi tiền biêu hàng tháng cho những người góp biêu, trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Đối với 03 người tham gia chơi biêu, Nguyễn Thị Thu B khai đã chiếm đoạt tiền của họ, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhân thân lai lịch của những người này để triệu tập làm việc, quá trình xác minh xác định: Người tên Cô M Trữ là bà Nguyễn Thị T19 (sinh năm: 1956, trú tại: tổ B, thôn D, xã T); người có tên B2 có chồng tên Q1 là bà Đoàn Thị B2 (sinh năm: 1969, trú tại: tổ F, thôn E, xã T) và người có tên C3 là bà Trà Thị Kim C3 (sinh năm: 1977, trú tại: tổ C, thôn B, xã T). Tuy nhiên, hiện nay những người này không có mặt tại địa phương, đi làm ăn xa, không xác định rõ đang ở đâu, làm gì nên chưa đủ cơ sở để xác định họ có bị Nguyễn Thị Thu B chiếm đoạt tiền biêu hay không.
Ngoài những người bị hại nêu trên, Nguyễn Thị Thu B khai còn có 39 người tham gia chơi biêu do Ba tổ chức, trong quá trình tham gia chơi biêu nhưng họ đã góp biêu và được hốt biêu khi Nguyễn Thị Thu B tuyên bố vỡ biêu, họ không bị thiệt hại gì nên họ không tố cáo. Để giải quyết triệt để vụ án, đảm bảo quyền lợi của những người tham gia chơi biêu bị Nguyễn Thị Thu B chiếm đoạt tiền, Cơ quan điều tra đã ban hành văn bản thông báo truy tìm người bị hại, tuy nhiên, không có ai đến trình báo.
2. Kết quả trưng cầu giám định; việc tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng: Quá trình khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị Thu B, Cơ quan điều tra đã phát hiện và tạm giữ: 01 (một) cuốn sổ có bìa bọc da màu nâu, góc trên cùng bên phải có in dòng chữ “BUSINESS KB6-240T”, bên trong có tổng cộng 68 (sáu tám) tờ giấy được ghi chép nhiều nội dung; 01 (một) cuốn sổ có bìa cứng in hoa văn caro màu trắng - xanh, bên trong có tổng cộng 05 (năm) tờ giấy được ghi chép nhiều nội dung; 01 (một) cuốn sổ có bìa in hoa văn màu trắng - tím, cạnh sổ có in dãy chữ “GiDOSA” bên trong có tổng cộng 18 (mười tám) tờ giấy được ghi chép nhiều nội dung theo dõi các việc hiếu, hỉ của gia đình và các khoản chi phí nợ nần không liên quan đến khoảng thời gian tổ chức chơi biêu nêu trên.
Cơ quan Điều tra đã tiến hành kê biên các thửa đất số 385/2, tờ bản đồ số 29, diện tích726 m² (Giấy CNQSDĐ số CO 015847); thửa đất có số Lô 17, K, Tiểu khu E, tờ bản đồ số 01/LN - TH diện tích 11.035 m² (Giấy CNQSDĐ số BB 419871); thửa đất số 861, tờ bản đồ số 01, diện tích 4.442 m² (đã kê khai nhưng chưa được cấp Giấy CNQSDĐ) của vợ chồng Nguyễn Thị Thu B.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Thu B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập thể hiện trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số: 89/CT-VKSQN-P2 ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam thực hành quyền công tố Nhà nước luận tội, giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu B, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu B từ 10 năm đến 11 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu B bồi thường cho các bị hại theo quy định của pháp luật. Về xử lý vật chứng, đề nghị xử lý theo đề nghị tại bản cáo trạng.
- Luật sư Bùi Bá D bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thu B trình bày luận cứ: Thống nhất về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà. Trong suốt quá trình tố tụng bị cáo B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi vỡ nợ đã đi làm thuê kiếm tiền và vận động gia đình trả lại một phần tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại; nguyên nhân bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của bị hại một phần là do trước đó bị cáo bị người khác chiếm đoạt tiền không trả; tại phiên toà một số bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện rất khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; đồng thời áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử bị cáo mức hình phạt dưới khung hình phạt áp dụng và thấp hơn mức hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên toà.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu B thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt một số bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu B khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Để có tiền chi trả tiền biêu cho các thành viên tham gia chơi biêu và các khoản nợ trước đó, đầu năm 2020 (âm lịch) Nguyễn Thị Thu B đã nảy sinh ý định thông qua việc tổ chức biêu hụi để chiếm đoạt tiền góp biêu của những người chơi biêu. Để chiếm đoạt được tiền góp biêu của những người chơi biêu, Nguyễn Thị T7 Ba không tạo ra dây biêu cụ thể, không tổ chức họp biêu, đấu biêu, không để những người đã tham gia chơi biêu biết nhau và kiểm chứng thông tin. Để mọi người tin tưởng tham gia, Nguyễn Thị Thu B đã tự đưa ra thông tin không có thật về dây biêu (số lượng chân biêu, số lượng thành viên tham gia, người đã được nhận biêu và thời gian trút ống). Tiền đóng biêu hằng tháng của những người chơi biêu, Nguyễn Thị Thu B chiếm đoạt sử dụng vào việc cá nhân rồi nói với các thành viên chơi biêu là kỳ biêu tháng này đã có người đấu biêu để hốt biêu với mức lãi suất do B đưa ra. Để thành viên chơi biêu tin tưởng, hằng tháng, sau khi nhận tiền góp biêu của những người chơi biêu, Nguyễn Thị Thu B đều trả cho họ phần tiền lãi với tỷ lệ thấp nhất là 10% trên tổng số tiền biêu mỗi thành viên góp trong tháng và thông báo đây là tiền lãi biêu mà người hốt biêu trả cho thành viên khác trong dây biêu. Trường hợp trong tháng nếu có người xin đấu biêu, lĩnh biêu, phần lớn Nguyễn Thị Thu B đều không đồng ý và đưa ra nhiều lý do như trong tháng đã có thành viên khác đấu biêu với lãi suất cao nên để họ hốt trước. Đến cuối năm 2020 (âm lịch), Nguyễn Thị Thu B nhận thấy số tiền nợ biêu ngày càng nhiều, tiếp tục đưa ra thông tin gian dối với các thành viên tham gia chơi biêu ở gần đến thời điểm trút ống, rằng: dây biêu tăng thêm thành viên nên thời gian trút ống lùi lại, mục đích để kéo dài thời gian trút ống và chiếm đoạt thêm tiền đóng biêu của những người tham gia. Đến tháng 02/2021 (âm lịch), do mất khả năng chi trả tiền khi các dây biêu đến thời điểm trút ống cùng lúc, Nguyễn Thị Thu B đã tuyên bố vỡ biêu, chiếm đoạt tiền biêu của những người chơi biêu rồi bỏ đi khỏi địa phương. Kết quả điều tra đã chứng minh được Nguyễn Thị Thu B đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của 52 bị hại với tổng số tiền là 2.025.000.000 đồng, sử dụng vào việc trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Hành vi và hậu quả nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Thu B đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bản Cáo trạng truy tố số: 89/CT-VKSQN-P2 ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì thấy: Quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp tài sản của người khác đều bị pháp luật trừng trị và dư luận xã hội lên án. Bị cáo Nguyễn Thị Thu B hiểu, nhận thức được điều đó, song do muốn chiếm đoạt tiền của người khác, bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối để các bị hại tin tưởng giao tài sản cho mình cho bị cáo thông qua hình thức chơi biêu để chiếm đoạt của nhiều bị hại với số tiền lớn. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra không những trực tiếp xâm hại quyền sở về hữu tài sản của bị hại, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án thì thấy:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Thị Thu B chiếm đoạt tiền nhiều lần của 52 bị hại, mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng. Do đó, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Trong quá trình tố tụng bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi bị tố cáo, Nguyễn Thị Thu B đã trả lại cho 44 bị hại tổng cộng số tiền 442.142.000 đồng; tại phiên toà một số bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; trong quá trình công tác tại Hội phụ nữ xã T, bị cáo có thành tích xuất sắc được tặng thưởng giấy khen của Hội phụ nữ huyện T và UBND xã T. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng là phù hợp.
[5] Về loại hình phạt áp dụng: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Thu B phải trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt còn lại, riêng bị hại Đoàn Thị V2 không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền chiếm đoạt 9.000.000 đồng. Tại phiên toà bị cáo đồng ý trả lại số tiền đã chiếm đoạt còn lại theo yêu cầu của các bị hại, do vậy ghi nhận sự tự nguyện này. Như vậy, bị cáo B có nghĩa vụ trả lại số tiền đã chiếm đoạt còn lại cho 51 bị hại tổng cộng số tiền là 1.573.858.000 đồng.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) cuốn sổ có bìa bọc da màu nâu, góc trên cùng bên phải có in dòng chữ “BUSINESS KB6-240T”, bên trong có tổng cộng 68 (sáu tám) tờ giấy được ghi chép nhiều nội dung; 01 (một) cuốn sổ có bìa cứng in hoa văn caro màu trắng - xanh, bên trong có tổng cộng 05 (năm) tờ giấy được ghi chép nhiều nội dung; 01 (một) cuốn sổ có bìa in hoa văn màu trắng - tím, cạnh sổ có in dãy chữ “GiDOSA” bên trong có tổng cộng 18 (mười tám) tờ đã ghi chép; các tài liệu này không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
- Trong quá trình tố tụng, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q đã ban hành Lệnh kê biên tài sản số 460/LKB-CSĐT-Đ2 ngày 05/8/2024 đối với các tài sản sau: Thửa đất số 385/2, tờ bản đồ số 29, diện tích 726 m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 015847; thửa đất số lô 17, khoảnh 10, tiểu khu E, tờ bản đồ số 01/LN – TH, diện tích 11.035 m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 419871; thửa đất số 861, tờ bản đồ số 01, diện tích 4.442 m² đã kê khai nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng Nguyễn Thị Thu B và ông Nguyễn H. Để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo B trong vụ án này nên tiếp tục duy trì Lệnh kê biên các tài sản trên.
[8] Các vấn đề khác liên quan trong vụ án:
Đối với 03 người tham gia chơi biêu, Nguyễn Thị Thu B khai đã chiếm đoạt tiền của họ, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhân thân lai lịch của những người này để triệu tập làm việc. Quá trình xác minh xác định: Người tên Cô M Trữ là chị Nguyễn Thị T19 (sinh năm: 1956, trú tại: tổ B, thôn D, xã T); người có tên B2 có chồng tên Q1 là chị Đoàn Thị B2 (sinh năm: 1969, trú tại: tổ F, thôn E, xã T) và người có tên C3 là chị Trà Thị Kim C3 (sinh năm: 1977, trú tại: tổ C, thôn B, xã T). Tuy nhiên, hiện nay những người này không có mặt tại địa phương, đi làm ăn xa, không xác định rõ đang ở đâu, làm gì nên Cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Ngoài những người bị hại nêu trên, Nguyễn Thị Thu B khai còn có 39 người tham gia chơi biêu do Ba tổ chức, trong quá trình tham gia chơi biêu nhưng họ đã góp biêu và được hốt biêu khi Nguyễn Thị Thu B tuyên bố vỡ biêu, họ không bị thiệt hại gì nên họ không tố cáo. Để giải quyết triệt để vụ án, đảm bảo quyền lợi của những người tham gia chơi biêu bị Nguyễn Thị Thu B chiếm đoạt tiền, Cơ quan điều tra đã ban hành văn bản thông báo truy tìm người bị hại; tuy nhiên, không có ai đến trình báo nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với bà Nguyễn Thị C2, trong quá trình chơi biêu bị cáo B còn nợ bà C2 số tiền 13.200.000 đồng. Bà C2 đã khởi kiện vụ án dân sự và đã được Toà án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam giải quyết xong, hiện nay đang trong quá trình thi hành án. Tại phiên toà bà C2 đồng ý với kết quả giải quyết của Toà án Tiên Phước và không có ý kiến khiếu nại gì thêm nên không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Thu Ba P6 chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu B 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 23/8/2023).
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 585, 587, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu B có nghĩa vụ bồi thường lại tài sản đã chiếm đoạt cho 51 bị hại, cụ thể như sau:
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị H1 số tiền 40.800.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị T số tiền 101.950.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Phạm Thị H2 số tiền 63.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị K số tiền 36.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Đoàn Thị D1 số tiền 15.500.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Phan Thị H3 số tiền 20.800.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Huỳnh Thị Bích T1 số tiền 27.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Lương Thị Lệ T2 số tiền 32.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị Mai H4 số tiền 2.000.000 đồng
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị S1 số tiền 54.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Trần Thị T3 số tiền 25.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Phan Thị T4 số tiền 50.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Lê Thị Á số tiền 36.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị Phương T5 số tiền 32.200.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Võ Thị Cẩm V1 số tiền 26.264.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Võ Thị T6 số tiền 10.060.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Đoàn Thị Kim P 119.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị P1 số tiền 12.455.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị H5 số tiền 33.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị T7 số tiền 24.710.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Huỳnh Thị Minh L số tiền 22.900.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị Vũ N số tiền 37.500.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị H6 số tiền 15.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị Á1 số tiền 9.400.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Lê Thị P2 số tiền 9.600.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thúy Á2 số tiền 10.200.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Mai Thị Mỹ L1 số tiền 85.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Phạm Thị T8 22.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị H4 số tiền 27.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Lê Thị Ngọc S2 số tiền 92.019.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Lê Thị T9 số tiền 23.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Triệu Thị T10 số tiền 37.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Trịnh Thị Kim Y số tiền 15.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Mai Thị T11 số tiền 30.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Bùi Thị Thanh P3 số tiền 15.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Mai Thị Phương D2 số tiền 17.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Đỗ Thị L2 số tiền 14.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Đặng Thị P4 số tiền 17.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Lê Thị T12 số tiền 49.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Võ Thị T13 số tiền 11.500.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Ngô Thị T14 số tiền 9.500.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Võ Thị P5 số tiền 9.500.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Phạm Thị T15 số tiền 2.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Mai Thị D3 số tiền 20.500.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Dương Thị H8 số tiền 6.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị Hoài C số tiền 4.500.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim S3 số tiền 51.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Trần Thị H9 số tiền là 3.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Trần Thị Kim L3 số tiền 6.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim T16 số tiền 81.000.000 đồng.
- Bồi thường cho bà Lê Thị Kim D4 số tiền 9.000.000 đồng.
Tổng cộng số tiền bị cáo Nguyễn Thị Thu Ba P6 bồi thường cho các bị hại là 1.573.858.000 (một tỷ năm trăm bảy mươi ba triệu tám trăm năm mươi tám nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Thị T7 Ba không thi hành bồi thường số tiền nêu trên thì bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp khác: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:
- Trả lại cho bị cáo Ba: 01 (một) cuốn sổ có bìa bọc da màu nâu, góc trên cùng bên phải có in dòng chữ “BUSINESS KB6-240T”, bên trong có tổng cộng 68 (sáu tám) tờ giấy được ghi chép nhiều nội dung; 01 (một) cuốn sổ có bìa cứng in hoa văn caro màu trắng - xanh, bên trong có tổng cộng 05 (năm) tờ giấy được ghi chép nhiều nội dung; 01 (một) cuốn sổ có bìa in hoa văn màu trắng - tím, cạnh sổ có in dãy chữ “GiDOSA” bên trong có tổng cộng 18 (mười tám) tờ đã ghi chép; các tài liệu này hiện nay đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/9/2024).
- Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản số 460/LKB-CSĐT-Đ2 ngày 05/8/2024 của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q đối với các tài sản sau: Thửa đất số 385/2, tờ bản đồ số 29, diện tích 726 m2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 015847; thửa đất số lô 17, khoảnh 10, tiểu khu E, tờ bản đồ số 01/LN – TH, diện tích 11.035 m2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 419871; thửa đất số 861, tờ bản đồ số 01, diện tích 4.442 m2 đã kê khai nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng Nguyễn Thị Thu B và ông Nguyễn H, để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo B.
4. Về án phí: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu Ba P6 chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 59.215.740 (năm mươi chín triệu hai trăm mười lăm nghìn bảy trăm bốn mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, những người tham gia tố tụng có mặt có quyền làm đơn kháng cáo gửi lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/11/2024). Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Tấn Long |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố tội phạm và xử phạt bị cáo
