|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số : 84/2024/HS-ST Ngày : 22/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Phan Hùng
Hội thẩm nhân dân: bà Vũ Thị Thanh, ông Đàm Chí Thân
-Thư ký phiên toà: bà Mai Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên - Tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên - Tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/HS-ST ngày 01/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST- HS ngày 09/7/2024 đối với các bị cáo:
1. Phạm Thế K. Tên gọi khác: không, giới tính: nam. Sinh ngày 08/10/1995, tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: tổ E khu A, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 4/12; nghề nghiệp: lao động tự do. Họ và tên bố: Phạm Thế L; họ và tên mẹ: Lý Thị H. Anh chị em ruột có ba người, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Đỗ Thị M, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: ngày 31/10/2012, Toà án nhân dân Tối cao xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” cộng 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành hình phạt cho hai tội là 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2012. Ngày 02/11/2018, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong bản án ngày 04/4/2020. Bị cáo bị giữ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp ngày 28/3/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
2. Đỗ Mạnh C. Tên gọi khác: không, giới tính: nam. Sinh ngày 04/3/1998, tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: tổ D b khu A, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 7/12; nghề nghiệp: lao động tự do. Họ và tên bố: Đỗ Văn C1, họ và tên mẹ: Bùi Thị T. Anh chị em ruột có 2 người, bị cáo là con thứ nhất. Vợ, con: chưa. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: năm 2012, Ủy ban nhân
2
dân thành phố U áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G, thời hạn 24 tháng. Ngày 26/01/2016, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 02/11/2018, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/12/2020, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong bản án ngày 30/6/2021. Bị cáo bị giữ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp ngày 28/3/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
3. Trần Mạnh D. Tên gọi khác: không. Giới tính: nam. Sinh ngày 28/4/1996, tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: tổ D b khu A, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 6/12; Nghề nghiệp: lao động tự do. Họ và tên bố: Trần Văn H1; họ và tên mẹ: Đỗ Thị Y. Anh chị em ruột có 3 người, bị cáo là con thứ nhất. Vợ, con: chưa. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: năm 2011, Ủy ban nhân dân thành phố U, tỉnh Quảng Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G, thời hạn 24 tháng. Bị cáo bị giữ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp ngày 29/3/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: chị Bùi Thị M1, sinh năm 1965. Nơi cư trú: thôn T, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Anh Bùi Văn B, sinh năm 1996. Nơi cư trú: thôn T, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Anh Đoàn Thiên S, sinh năm 1996. thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1996. thôn C, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.(có đơn xin xét xử vắng mặt).
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trần Văn H1, sinh năm 1959. Nơi thường trú: tổ D b khu A, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 00 giờ 30 phút ngày 27/3/2024, tại nhà Đỗ Mạnh C ở khu A, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Thế K khởi xướng, thống nhất cùng C và Trần Mạnh D trộm cắp tài sản tại thị xã Q, tài sản trộm cắp được sẽ chia đều cho cả ba. Khoảng 01 giờ cùng ngày, D điều khiển xe mô tô HONDA WAVE màu đen, biển kiểm soát 14Y1-359.10, chở C và K đi theo đường Quốc lộ 18 vào tỉnh lộ 338. Khi đi đến đoạn đường liên xã thuộc thôn T, xã T, thị xã Q, phát hiện nhà anh Bùi Văn B không khóa cổng, chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu xanh - đen, BKS 14X1-190.29 để tại sân, không có người trông giữ nên C dừng xe gần nhà anh B. D và C ở lại trông xe, cảnh giới, K đột nhập vào nhà anh B, thấy chìa khóa được cắm tại ổ khóa
3
nên K dắt chiếc xe ra chỗ C và D đang đứng. D điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp đi về nhà C cất giấu; K và C ở lại tiếp tục đi trộm cắp tài sản.
Khoảng 01 giờ 40 phút cùng ngày, K và C phát hiện nhà bà Bùi Thị M1 tại thôn T, xã T, thị xã Q để chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE Alpha, màu đỏ-đen, BKS 14H3-0232 tại sân, C ở lại trông xe, cảnh giới, K vào nhà bà M1 trộm cắp chiếc xe trên đưa ra ngoài. K và C đưa xe đến đầu đường T, dùng chìa khóa mang theo mở khóa xe vừa trộm cắp thì nổ được máy. Khảng điều khiển xe HONDA WAVE màu đỏ vừa trộm cắp, C điều khiển xe HONDA WAVE màu đen của D đi về nhà của C tại thành phố U. Trên đường về, K và C phát hiện nhà anh Đoàn Thiên S tại thôn C, xã T, thị xã Q để một số cây cảnh trước cổng nhà, K và C dừng xe tại vị trí để cây cảnh sau đó K lấy 01 cây mai có độ rộng khoanh gốc khoảng 16 cm, cao khoảng 140 cm, tán rộng khoảng 120 cm, bầu gốc tròn đường kính khoảng 40cm rồi để phía sau xe trộm cắp. Sau đó K và C điều khiển xe chở theo cây về nhà C cất giấu.
Tiếp đó, khoảng 03 giờ cùng ngày, D tiếp tục điều khiển xe mô tô HONDA WAVE, màu đen, BKS 14 Y1-359.10, chở C và K đi đến xã S, thị xã Q, phát hiện nhà anh Hoàng Văn H2 tại thôn C, xã S, thị xã Q để chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RS KWY, màu đỏ-đen-bạc, BKS 14H2-5031 tại sân nhà, không có người trông giữ nên dừng xe trước cổng nhà anh H2. C và D ở ngoài cảnh giới, K đột nhập vào nhà, trộm cắp xe mô tô trên ra đưa cho D điều khiển. Sau đó, K điều khiển xe HONDA WAVE, màu đen chở C ngồi phía sau, dùng chân đẩy xe HONDA WAVE RS KWY trộm cắp do D điều khiển về nhà C cất giấu.
Tại nhà C, cả ba thống nhất chia tài sản trộm cắp được như sau: Khảng lấy xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE Alpha, màu đỏ-đen, BKS 14H3-0232 và cây mai; C lấy xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RS KWY, màu đỏ-đen-bạc, BKS 14H2- 5031; D lấy xe mô tô YAMAHA SIRIUS, màu đen-xanh, BKS 14X1-190.29. Chia tài sản xong, K điều khiển xe trộm cắp chở cây mai về nhà cất giấu, D điều khiển xe HONDA WAVE, màu đen, BKS 14Y1-359.10 về nhà, để lại xe YAMAHA SIRIUS trộm cắp tại nhà C. Để tránh bị phát hiện, C tháo biển số xe mô tô 14 H2-5031 trộm cắp được vứt xuống sông S (C không nhớ vị trí) thuộc thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.
Ngày 28/3/2024, bà Bùi Thị M1, các anh Bùi Văn B, Đoàn Thiên S, Hoàng Văn H2 trình báo việc bị mất trộm tài sản. Cùng ngày, Cơ quan điều tra bắt, khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thế K, Đỗ Mạnh C, thu giữ: tại chỗ ở của Phạm Thế K 01 cây mai vàng độ rộng khoanh gốc 16 cm, cao khoảng 140 cm, tán rộng khoảng 120 cm, bầu gốc tròn đường kính khoảng 40cm và 01 xe mô tô HONDA WAVE Alpha, màu đỏ-đen, BKS 14H3-0232. Tại chỗ ở của Đỗ Mạnh C 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RS KWY, màu đỏ-đen-bạc đã bị C vứt biển kiểm soát. Ngày 29/3/2024, Cơ quan điều tra giữ, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Mạnh D, khám xét nơi ở của D không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
4
Kết luận định giá tài sản số 17/KL-ĐGTS, ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu xanh-đen, BKS:14X1-190.29 đã qua sử dụng trị giá 6.300.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE Alpha (a), màu đỏ-đen, BKS: 14 H3-0232 đã qua sử dụng, trị giá 3.800.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RS KWY, màu đỏ-đen-bạc, BKS: 14 H2-5031 đã qua sử dụng, trị giá 4.400.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 14.500.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 18/KL-ĐGTS, ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q, kết luận: 01 cây mai vàng, độ rộng khoanh gốc 16 cm, cao khoảng 140 cm, tán rộng khoảng 120 cm, bầu gốc tròn đường kính khoảng 40cm, trị giá 2.500.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 1246/CT-VKSQY ngày 01/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Thế K, Đỗ Mạnh C, Trần Mạnh D tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thị xã Q giữ quan điểm truy tố bị cáo Phạm Thế K, Đỗ Mạnh C, Trần Mạnh D tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Phạm Thế K từ: 21 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2024
- - Xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh C từ: 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2024.
- - Xử phạt bị cáo Trần Mạnh D từ: 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.
-Về bồi thường: căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585; Điều 587; Điều 589 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Phạm Thế K, Đỗ Mạnh C, Trần Mạnh D phải bồi thường cho bị hại anh Bùi Văn B số tiền 6.500.000 đồng.
-Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
-Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung Cáo trạng và thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo Phạm Thế K khai: khoảng 00 giờ 30 phút ngày 27/3/2024, tại nhà Đỗ Mạnh C, bị cáo khởi xướng, bàn bạc với Đỗ Mạnh C, Trần Mạnh D cùng nhau đi xuống Q trộm cắp tài sản, tài sản trộm cắp được sẽ chia đều. Bị cáo trực tiếp thực hiện cả 4 vụ trộm cắp. Sau khi trộm cắp 4 vụ ở Q, cả ba bị cáo đã chia tài sản trộm cắp được như trong nội dung bản cáo trạng. Chiếc xe YAMAHA SIRIUS, biển kiểm soát 14 X1-190.29 trộm cắp được chia cho D, bị cáo đến nhà C lấy mang về nhà bị cáo cất giấu để bán sau nhưng bị mất.
5
Bị cáo Đỗ Mạnh C, Trần Mạnh D khai phù hợp lời khai bị cáo Phạm Thế K. Bị cáo K là người khởi xướng, bàn bạc và chia tài sản khi trộm cắp được. Bị cáo C tháo biển số xe mô tô 14 H2- 5031 vứt xuống sông S ở U. D khai chiếc xe mô tô BKS 14 Y1-359.10 là của ông Trần Văn H1 bố D, sau khi sử dụng xe đi trộm cắp tài sản D đã trả lại cho ông H1, D không nói với ông H1 đã lấy xe đi trộm cắp.
Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
-Bị hại anh Bùi Văn B, bà Bùi Thị M1, anh Đoàn Thiên S khai phù hợp lời khai các bị cáo. Chị M1 trích xuất Camera phát hiện khoảng 01 giờ 30 phút ngày 27/3/2024 có một đối tượng vào trộm cắp xe mô tô, nhãn hiệu HONDA- WAVE Alpha, biển kiểm soát 14 H3-0232. Anh B trích xuất Camera phát hiện khoảng 1 giờ 29 phút có một người vào trộm cắp xe mô tô, biển kiểm soát 14 X1-19029, nhãn hiệu YAMAHA, S-ri-us. Anh S phát hiện bị mất trộm một cây mai vàng, cao khoảng 1,2 m; thoát thân từ gốc lên khoảng 20 cm. Bà M1, anh S đã được Công an trả lại tài sản, không có yêu cầu gì khác. Anh Bùi Văn B chưa nhận được tài sản và yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 6.500.000 đồng.
- Anh Hoàng Văn H2 khai: khoảng 5 giờ 50 phút ngày 27/3/2024, anh H2 phát hiện bị mất chiếc xe mô tô, HONDA WAVE RS KWY, màu đỏ-đen-bạc, BKS 14 H3-0232. Anh H2 được Công an trả lại xe và không có yêu cầu gì.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1 khai: ông là chủ sở hữu của xe mô tô biển kiểm soát: 14 Y1-359.10. Ông H1 không biết việc con ông là D lấy xe mô tô của ông đi trộm cắp tài sản ngày 27/3/2024. Bị cáo D đã trả lại ông chiếc xe này và ông không có yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó: các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
*Về hành vi phạm tội:
[1] Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo Phạm Thế K, Đỗ Mạnh C, Trần Mạnh D khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng. Như vậy, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai bị hại; phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: trong khoảng
6
thời gian từ 00 giờ 30 phút đến 04 giờ ngày 27/3/2024, tại xã T và xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Thế K, Đỗ Mạnh C và Trần Mạnh D đã trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu xanh đen, BKS 14X1-190.29 trị giá 6.300.000đồng của anh Bùi Văn B; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE Alpha (a), màu đỏ đen, BKS 14H3-0232 trị giá 3.800.000 đồng của bà Bùi Thị M1; 01 cây mai vàng trị giá 2.500.000đồng của anh Đoàn Thiên S; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RS KWY, màu đỏ đen bạc, BKS: 14H2-5031 trị giá 4.400.000 đồng của anh Hoàng Văn H2. Tổng trị giá tài sản các bị cáo trộm cắp là 17.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Thế K, Đỗ Mạnh C, Trần Mạnh D phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đều nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện. Ngày 27/3/2024, bị cáo Phạm Thế K đã khởi xướng, rủ và thống nhất cùng bị cáo C, D xuống Q trộm cắp, tài sản trộm cắp được về sẽ chia đều. Trong khoảng thời gian từ 00 giờ 30 phút đến 04 giờ ngày 27/3/2024, bị cáo Phạm Thế K, Đỗ Mạnh C, Trần Mạnh D đã thực hiện hành vi trộm cắp 4 lần tại địa bàn thị xã Q. Tổng giá trị tài sản các bị cáo trộm cắp là 17.000.000 đồng. Do đó, Các bị cáo Phạm Thế K, Đỗ Mạnh C, Trần Mạnh D phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Về vai trò các bị cáo trong vụ án: các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; có sự thống nhất khi trộm cắp được tài sản về sẽ chia đều cho nhau nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ giữa các bị cáo. Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn. Trong đó bị cáo K là người khởi xướng, rủ các bị cáo C, D thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; đồng thời là người thực hành tích cực, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp cả 4 vụ nên giữ vai trò đầu trong vụ án. Giữ vai trò sau là bị cáo Đỗ Mạnh C tiếp nhận ý chí của bị cáo K, cảnh giới trong 4 vụ trộm cắp và cùng đưa các tài sản trộm cắp đi cất giấu nên có vai trò thứ hai sau bị cáo K. Giữ vai trò sau cùng là Trần Mạnh D: tham gia thực hiện hai vụ trộm cắp với vai trò giúp sức, cùng cất giấu tài sản trộm cắp.
Về nhân thân các bị cáo thấy: các bị cáo đều có nhân thân xấu. Bị cáo Phạm Thế K đã hai lần bị Tòa án xét xử về tội “ Cướp tài sản và trộm cắp tài sản”; bị cáo Đỗ Mạnh C đã bị Tòa án xét xử nhiều lần về tội “ Trộm cắp tài sản” và Ủy ban nhân dân thành phố U áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G tháng. Bị cáo Trần Mạnh D đã bị Ủy ban nhân dân thành phố U áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G tháng. Do đó, cần có mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi các bị cáo đã thực hiện.
7
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp 02 lần trở lên do đó phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]. Về vật chứng trong vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Đoàn Thiên S 01 cây mai; trả cho bà Bùi Thị M1 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE Alpha, biển kiểm soát 14 H3- 0232; trả cho anh Hoàng Văn H2 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RS KWY, không gắn biển kiểm soát. Anh S, bà M1, anh H2 không có yêu cầu gì khác.
[7]. Về trách nhiệm bồi thường: anh Bùi Văn B chưa nhận được xe, yêu cầu các bị cáo bồi thường cho anh số tiền 6.500.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Bùi Văn B số tiền 6.500.000 đồng. Chia theo phần bằng nhau, mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh B số tiền: 2.166.666 đồng.
[8]. Về án phí, quyền kháng cáo: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 58; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Thế K, Đỗ Mạnh C, Trần Mạnh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt Phạm Thế K: 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2024.
Xử phạt Đỗ Mạnh C: 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2024.
Xử phạt Trần Mạnh D: 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.
Về trách nhiệm bồi thường: căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật Dân sự. Bị cáo Phạm Thế K, Đỗ Mạnh C, Trần Mạnh D mỗi bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho anh Bùi Văn B số tiền 2.166.666 đ (hai triệu, một trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả số tiền trên cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Về án phí, quyền kháng cáo:
8
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Luật phí và lệ phí.
Các bị cáo Phạm Thế K, Đỗ Mạnh C, Trần Mạnh D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Phạm Thế K, Đỗ Mạnh C, Trần Mạnh D mỗi bị cáo phải nộp 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
Nơi nhận:
|
T M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Phan Hùng |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thế K, Đỗ Mạnh C, Trần Mạnh D phạm tội Trộm cắp tài sản
