Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

Bản án số: 84/2024/HS-ST

Ngày 12-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Kim Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Vân, bà Đặng Thị Hồng Duyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Giang - Thư ký Tòa án nhân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 20-11-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 27-11-2024, đối với các bị cáo:

  1. Trần Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 26-10-1989, tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Đ, sinh năm 1968; con bà: Đào Thị N, sinh năm 1969; Vợ thứ nhất: Lê Thanh H, sinh năm 1989 (đã ly hôn); vợ thứ hai: Nguyễn Thị C, sinh năm 1986, con: có 01 con, sinh năm 2009; tiền án: 01. Năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 08 năm tù về tội “Hiếp dâm” tại Bản án số 05/2016/HSST ngày 02-3-2016; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  2. Nguyễn Thị C; tên gọi khác: Không; sinh ngày 24-9-1986, tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường N (nay là phường H), thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh B, sinh năm 1963; con bà: Trần Thị T1, sinh năm 1966; chồng thứ nhất: Phạm Quang M, sinh năm 1976 (đã ly hôn); chồng thứ hai: Trần Văn T, sinh năm 1989; con: có 01 con, sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

* Bị hại: Ông Nguyễn Việt B1; sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn Đ, xã Â, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt, đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Vũ Thị L; sinh năm 1958; địa chỉ: Thôn Đ, xã Â, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt, đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Chị Dương Thị H1; sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt, đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Bà Đào Thị M1; sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt, đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Thành C1; sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ E, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều tối ngày 11-8-2024, Trần Văn T đi đến khu vực dân cư trên trục đường Q thuộc địa phận xã Â, thành phố Y, tỉnh Yên Bái để tìm những nhà dân chăn nuôi gà trộm cắp bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. T chuẩn bị bao tải và kìm cắt kim loại làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, T rủ vợ là Nguyễn Thị C để đi trộm cắp cùng. Chính và T đi đến nhà anh trai của C là anh Nguyễn Thành C1 để mượn xe mô tô biển kiểm soát: 21B2-046.53 dùng làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 12-8-2024, T điều khiển xe môtô biển kiểm soát: 21B2- 046.53 chở C ngồi sau đi đến khu vực đường Q. Khi đến nhà bà Vũ Thị L, T xuống xe bảo C điều khiển xe đi chỗ khác và chờ trên đường để cảnh giới, còn T cầm theo bao tải và kìm đã chuẩn bị từ trước đi vào khu vực chuồng gà, sử dụng kìm cắt hàng rào bằng kim loại, đột nhập vào trộm cắp được 11 con gà cho vào bao tải rồi gọi C đến đón. Sau đó T và C về nhà của C. Tại đây, T và C kiểm tra xác định tổng trọng lượng số 11 con gà trộm cắp được là 16 kg. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, C gọi điện cho bà Đào Thị M1 đến và bán toàn bộ số gà nêu trên cho bà M1 được số tiền là 1.200.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 13-8-2024, T và C đi đến nhà ông Nguyễn Việt B1. T cầm bao tải và kìm cắt kim loại đột nhập vào khu vực chuồng gà. T đạp đổ hàng rào quây gà được dựng bằng lưới cước, bắt trộm được 20 con gà của nhà ông B1 cho vào bao tải, đi ra ngoài đường và gọi C chở về nhà. Khi về đến nhà, cả hai đếm được tổng số 20 con gà với tổng trọng lượng là 41,6 kg. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, C gọi cho bà M1 bán 06 con gà được số tiền 960.000 đồng; bán 04 con gà cho chị Dương Thị H1 được số tiền 940.000 đồng và bán 10 con gà còn lại cho một người (không xác định họ tên, địa chỉ) ở dọc đường, gần khu vực nhà ở của C được số tiền 700.000 đồng.

Tổng số tiền T và C sau khi bán 31 con gà trộm cắp được vào các ngày 12-8-2024 và ngày 13-8-2024 là 3.800.000 đồng. Số tiền này C và T đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị C và Trần Văn T giao nộp 01 chiếc kìm màu xanh, loại kìm cắt dây điện, bên thân cán kìm có dòng chữ “C-MART”, kìm đã qua sử dụng; số tiền 3.800.000 đồng; 01 quyển vở loại vở ô ly vuông 48 trang, mặt ngoài bìa vở màu xanh - trắng có các hình và chữ tự nhiên, bên trong có ghi chép nội dung liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản (quyển vở hiện đang được bảo quản theo hồ sơ vụ án).

Chị Dương Thị H1 tự giác giao nộp: 02 con gà trống màu đỏ và 02 con gà mái màu nâu (tình trạng đang sống khỏe mạnh) có tổng trọng lượng 11,8 kg.

Đồ vật, tài liệu thu giữ do Nguyễn Thị C giao nộp: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy do phòng C2 công an tỉnh Y cấp, số: 136558 mang tên: Nguyễn Thị C; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JANUS, màu sơn: trắng xanh đỏ, biển kiểm soát: 21B2-046.53 xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.

* Tại Kết luận định giá tài sản số: 36/KL-HĐĐGTS, ngày 27-8-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Y kết luận:

  • Đối với 11 con gà, bao gồm cả gà trống và gà mái, tổng trọng lượng: 16,0 kg bị trộm cắp vào ngày 12-8-2024. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Y xác định giá trị tài sản nêu trên tại thời điểm bị trộm cắp tài sản ngày 12-8-2024 là: 1.200.000 đồng.
  • Đối với 20 con gà, bao gồm cả gà trống và gà mái, tổng trọng lượng: 41,6 kg bị trộm cắp vào ngày 13-8-2024. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Y xác định giá trị tài sản nêu trên tại thời điểm bị trộm cắp tài sản ngày 13-8-2024 là: 3.120.000 đồng.

Ngày 30-9-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Y đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 827/QĐ-ĐTTH, trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Việt B1 02 con gà trống màu đỏ và 02 con gà mái màu nâu (tình trạng đang sống khỏe mạnh) có tổng trọng lượng: 11,8 kg.

Ngày 21-10-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Y đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 877/QĐ-ĐTTH, trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp đồ vật, tài sản là anh Nguyễn Thành C1 gồm: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy do phòng C2 công an tỉnh Y cấp, số: 136558 mang tên: Nguyễn Thị C; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JANUS, màu sơn: trắng xanh đỏ, biển kiểm soát: 21B2-046.53 xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.

Bị hại ông Nguyễn Việt B1 yêu cầu được bồi thường số tiền: 1.660.000 đồng đối với 16/20 con gà đã bị T, C trộm cắp vào ngày 13-8-2024 (ông B1 đã được trao trả 04 con gà trong quá trình điều tra).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị L đề nghị được trả lại số tiền là: 1.200.000 đồng tương ứng với 11 con gà bị T, C trộm cắp vào ngày 12-8-2024. Chị Dương Thị H1 có đề nghị các bị cáo hoàn trả số tiền 940.000 đồng tương ứng với 04 con gà mua từ T, C sau đó giao nộp lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra. Bà Đào Thị M1 không có yêu cầu, đề nghị gì.

Cáo trạng số 87/CT-VKSTP ngày 20-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Trần Văn T và Nguyễn Thị C về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về hình phạt chính:
    • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
    • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
    • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 579, Điều 580, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc các bị cáo phải bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Việt B1 số tiền 1.660.000 đồng; trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: bà Vũ Thị L số tiền 1.200.000 đồng và cho chị Dương Thị H1 số tiền 940.000 đồng (toàn bộ số tiền trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái đang quản lý).
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc kìm màu xanh, loại kìm cắt dây điện, bên thân cán kìm có dòng chữ “C-MART”, kìm đã qua sử dụng do Nguyễn Thị C và Trần Văn T giao nộp.
    • + Đối với số tiền 3.800.000 đồng là tiền các bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại để khắc phục hậu quả: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bồi thường và trả lại cho bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
  • + Đối với 01 quyển vở loại vở ô ly vuông 48 trang, mặt ngoài bìa vở màu xanh - trắng có các hình và chữ tự nhiên, bên trong có ghi chép nội dung liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản các bị cáo đã giao nộp: Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y đã lưu trữ trong hồ sơ vụ án nên không đề nghị giải quyết.
  • - Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn T. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Thị C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • - Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và không có tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái.
  3. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng bị thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận: Trong 02 ngày 12-8-2024 và ngày 13-8-2024, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc trông coi, quản lý tài sản, Trần Văn T và Nguyễn Thị C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 31 con gà thuộc quyền sở hữu ông Nguyễn Việt B1 và bà Vũ Thị L, trong đó hành vi chiếm đoạt 20 con gà của ông Nguyễn Việt B1 trị giá 3.120.000 đồng vào ngày 13-8-2024 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị C theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
  4. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó đã gây mất trật tự, an toàn trị an xã hội. Do đó cần phải đưa các bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

    Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo T là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ, trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo C là người giúp sức cho bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội và cùng bị cáo T mang tài sản đi tiêu thụ.

  5. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Các bị cáo đều là người có đủ năng lực nhận thức điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động của bản thân, biết hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo T có 01 tiền án chưa được xóa án tích về tội “Hiếp dâm” vào năm 2016. Sau khi chấp hành hình phạt tù trở về địa phương, bị cáo không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh, sửa đổi bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém. Bị cáo Nguyễn Thị C chưa có tiền án, tiền sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; các bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại toàn bộ số tiền 3.800.000 đồng do phạm tội mà có để khắc phục hậu quả, do đó xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Thị C còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  6. Về hình phạt chính: Từ những phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

    Đối với bị cáo Trần Văn T: Cần phải có một hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

    Đối với bị cáo Nguyễn Thị C: Trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách nhất định, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người có nơi cư trú rõ ràng, ăn năn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

  7. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào kết quả xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra, các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập và công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  8. Về hành vi, đồ vật và những người liên quan khác:
    • - Đối với hành vi trộm cắp tài sản là 11 con gà, tổng trọng lượng 16 kg có trị giá 1.200.000 đồng của bà Vũ Thị L do Trần Văn T và Nguyễn Thị C thực hiện vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 12-8-2024: Hành vi của Trần Văn T và Nguyễn Thị C chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 04-11-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Y đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C và T là phù hợp.
    • - Đối với bà Đào Thị M1 và chị Dương Thị H1: Quá trình điều tra xác định, bà M1 và chị H1 là người buôn bán và mổ gà tại khu vực chợ H3 (thuộc phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái), bản thân bà M1 và chị H1 thường xuyên mua gà về để mổ bán. Khi mua gà của các bị cáo vào các ngày 12-8-2024 và 13-8-2024, bà M1 và chị H1 không biết về nguồn gốc số gà là do T, C trộm cắp mà có. Do đó, không có căn cứ để xử lý bà M1 và chị H1 về hành vi tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có.
    • - Đối với người mua 10 con gà của T với giá 700.000 đồng: Quá trình điều tra, T không xác định được tên tuổi, địa chỉ và các thông tin liên quan đến người mua gà do đó không có căn cứ xác minh để xử lý.
    • - Đối với anh Nguyễn Thành C1 là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 21B2-046.53. Khi C và T mượn xe đi, anh C1 không biết C và T sử dụng vào mục đích trộm cắp tài sản. Vì vậy, không có căn cứ xử lý đối với anh C1 trong vụ án. Anh C1 đã nhận lại chiếc xe và không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    • - Đối với hành vi dùng kìm cắt kim loại, cắt hàng rào chuồng gà bằng lưới thép B40 khi đột nhập vào nhà bà Vũ Thị L của Trần Văn T: Quá trình điều tra, bà L xác định đoạn lưới thép B40 bị cắt dài khoảng 01m, thiệt hại khoảng 50.000 đồng, bà L đã khắc phục và không có yêu cầu đề nghị gì với bị cáo T nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    • - Đối với 01 quyển vở loại vở ô ly vuông 48 trang, mặt ngoài bìa vở màu xanh - trắng có các hình và chữ tự nhiên, bên trong có ghi chép nội dung liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản do các bị cáo giao nộp: Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y đã đánh số bút lục, lưu trữ trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  9. Về trách nhiệm dân sự:
    • - Ông Nguyễn Việt B1 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 1.660.000 đồng đối với 16/20 con gà đã bị T, C trộm cắp vào ngày 13-8-2024 không thu hồi được; bà Vũ Thị L đề nghị các bị cáo phải trả lại số tiền 1.200.000 đồng tương ứng với 11 con gà bị T, C trộm cắp vào ngày 12-8-2024 không thu hồi được: Xét yêu cầu của ông B1 và bà L là có căn cứ nên được chấp nhận.
    • - Chị Dương Thị H1 đã trả cho các bị cáo số tiền 940.000 đồng để mua 04 con gà, quá trình điều tra đã tự nguyện giao nộp lại 04 con gà trên để phục vụ điều tra: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo và lời khai của chị H1 có trong hồ sơ vụ án, xét thấy giao dịch mua bán giữa chị H1 và các bị cáo là bất hợp pháp ngay tình nên yêu cầu của chị H1 về việc buộc các bị cáo phải trả lại cho chị H1 số tiền 940.000 đồng là có căn cứ, cần được chấp nhận.
    • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đào Thị M1 đã trả số tiền 2.160.000 đồng cho các bị cáo để mua 17 con gà. Sau khi mua, bà M1 đã mang ra chợ bán hết. Bà M1 không có yêu cầu, đề nghị gì đối với các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  10. Về vật chứng:
    • - 01 chiếc kìm màu xanh, loại kìm cắt dây điện, bên thân cán kìm có dòng chữ “C-MART”, đã qua sử dụng do Nguyễn Thị C và Trần Văn T giao nộp: Xét là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.
    • - Đối với số tiền 3.800.000 đồng các bị cáo đã tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận đề nghị của các bị cáo về việc sử dụng toàn bộ số tiền trên để bồi thường, trả lại cho bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét đề nghị của các bị cáo là phù hợp, không trái pháp luật, đảm bảo được quyền lợi hợp pháp cho bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  11. Về án phí: Bị cáo Trần Văn T thuộc hộ cận nghèo, tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn T.

    Bị cáo Nguyễn Thị C phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

  12. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
  13. Đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
    2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12-12-2024).

      Giao bị cáo Nguyễn Thị C cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

      Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự

      Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

  3. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
    1. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 579, Điều 580, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự:

      Buộc các bị cáo phải bồi thường, trả lại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tổng số tiền là 3.800.000 đồng. Trong đó, bồi thường cho ông Nguyễn Việt B1 số tiền 1.660.000 đồng; trả lại cho bà Vũ Thị L số tiền 1.200.000 đồng; trả lại chị Dương Thị H1 số tiền 940.000 đồng.

      Xác nhận các bị cáo đã giao nộp đủ số tiền 3.800.000 đồng. Số tiền này hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái quản lý và được niêm phong trong 01 phong bì. Mặt trước của phong bì có ghi: “Tiền thu giữ trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại thôn Đ- xã Â- thành phố Y- tỉnh Yên Bái”; Mặt sau của phong bì các mép được dán kín, có đóng 04 (bốn) hình dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y và có họ tên, chữ ký của Đào Xuân H2, Bùi Ngọc D.

    2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

      Tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếc kìm màu xanh, loại kìm cắt dây điện, bên thân cán kìm có dòng chữ “C-MART”, đã qua sử dụng.

      (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21-11-2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái).

  4. Về án phí:
    • Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về mức thu, giảm, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
    • Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về mức thu, giảm, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị C phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND TP. Yên Bái;
  • - THADS TP. Yên Bái;
  • - HSNV; CATP. Yên Bái;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người có QL,NVLQ;
  • - Lưu HS, TA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Tạ Thị Kim Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 84/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 2. Về hình phạt: 2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. 2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12-12-2024). Giao bị cáo Nguyễn Thị C cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger