TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/HS-ST Ngày 11-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Tấn Chỉnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Kim Anh; bà Nguyễn Thị Thanh Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Ngọc H, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1995; tại: Đ, Quảng Nam; nơi thường trú: khối phố T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Võ Ngọc Á (Đã chết) và bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1967; gia đình bị cáo có 05 người con, bị cáo là con thứ 04; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 06-9-2023, bị Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06-4-2024, chuyển tạm giam từ ngày 15-4-2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bị hại: Ông Lê Tự M, sinh năm 1957, trú tại: Khối phố T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Ngọc C1, sinh năm 1988, trú tại: Khối phố Quảng Lăng B, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ 20 phút ngày 06-4-2024, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân, Võ Ngọc H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu bạc đen, BKS 43S7-4746 đi từ nhà thuộc khối phố T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam đến địa phận phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam với mục đích tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi đi đến khu vực đình làng T thuộc khối phố T, phường Đ, H thấy trong sân đình có 01 cây mai của ông Lê Tự M được trồng phía bên trái sân (hướng từ ngoài nhìn vào), không có người trông coi, cổng đình mở. H dựng xe bên ngoài tường rào tại vị trí sát cổng đình rồi đi bộ vào trong sân đình. Đến vị trí cây mai, H dùng hai tay xô mạnh làm cây mai ngã nghiêng, sau đó dùng hai tay nhổ cây mai lên, bỏ ra ngoài tường rào. Để thuận lợi cho việc vận chuyển, H dùng tay bẻ các nhánh mai dài cho gọn, rồi để cây mai nằm ngang phía sau xe chở đi tìm nơi tiêu thụ. Khi H đang di chuyển đi về hướng phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam thì bị Tổ tuần tra Công an phường Đ phát hiện, truy đuổi. H bỏ chạy đến đoạn đường thuộc khối phố B, phường Đ, thị xã Đ thì bị Tổ công tác phối hợp cùng Công an phường Đ dừng xe, kiểm tra, tạm giữ tang vật và mời về trụ sở để làm việc. Quá trình điều tra, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết luận định giá tài sản số 38/HĐ.ĐG ngày 09-4-2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thị xã Đ xác định: 01 cây mai vàng (giống cây mai đọt xanh) có đường kính tán 01m, cao 1,66m, hoành gốc 44cm, tại thời điểm ngày 06-4-2024 trị giá: 6.000.000 (Sáu triệu) đồng.
Cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Võ Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Võ Ngọc H về tội "Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Võ Ngọc H từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định được:
Vào khuya ngày 06-4-2024, tại khu vực đình làng T thuộc khối phố T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, bị cáo Võ Ngọc H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Lê Tự M một cây mai xuân đọt xanh, cao 1,66m, có đường kính tán 1m, hoành gốc 44cm trị giá 6.000.000 (Sáu triệu) đồng.
Xét kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự hiện hành, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Võ Ngọc H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn đã truy tố bị cáo Võ Ngọc H với tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[2.2] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra.
Tại Bản án số 73/2023/HS-ST ngày 06-9-2023 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xử phạt bị cáo Võ Ngọc H 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng. Bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo đã được cho hưởng án treo nhưng không sửa đổi bản thân mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, lần phạm tội này cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[2.3] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét, bị cáo không có việc làm, không có thu nhập. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[2.4] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:
[2.4.1] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Lê Tự M đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4.2] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 cây mai xuân đọt xanh, cao 1,66m, có đường kính tán 1m, hoành gốc 44cm: Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lê Tự M là phù hợp.
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu bạc đen, BKS 43S7-4746: Xe trên là của anh Võ Ngọc C1 (sinh năm 1988, trú khối Quảng Lăng B, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, anh ruột H). Anh C1 không biết việc H sử dụng xe mô tô BKS 43S7-4746 để làm phương tiện đi trộm cắp nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho anh Võ Ngọc C1 là phù hợp.
[2.5] Về án phí: Bị cáo Võ Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Võ Ngọc H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù.
Căn cứ Điều 65; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt 09 (chín) tháng tù tại Bản án số 73/2023/HS-ST ngày 06-9-2023 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Buộc bị cáo Võ Ngọc H phải chấp hành hình phạt tù của hai bản án là 02 (Hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 06 tháng 4 năm 2024.
Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Võ Ngọc H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11-7-2024). Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Tấn Chỉnh |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Ngọc Hiếu - Trộm cắp tài sản
