|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 84/2024/HS-ST Ngày 07-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Vũ Hùng Tuấn
2. Bà Kim Linh Chi
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trần Thành - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Cao Văn D - sinh ngày 23 tháng 11 năm 1994 tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu I, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Xuân B, sinh năm 1968 và bà Cao Thị H, sinh năm 1971; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: 1 tiền án: Bản án số 18/2023/HS-ST ngày 27/4/2023 của Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội: Trộm cắp tài sản (giá trị tài sản là 7.133.000 đồng). Bị cáo chưa chấp hành xong thời gian thử thách của án treo, D đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 22/6/2023; Nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 11/4/2024, chuyển tạm giam ngày 19/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
+Bị hại: Anh Nguyễn Kim T - sinh năm 1989.
Địa chỉ: Tổ D, khu T, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 30/3/2024, Cao Văn D đi bộ lang thang từ đường N, phường N đến phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Khi đi qua nhà anh Nguyễn Kim T thuộc tổ D, khu T, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, D phát hiện thấy 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA, màu sơn đỏ đen, không gắn biển kiểm soát, dựng trước cửa nhà, đầu xe hướng vào trong, đuôi xe hướng ra ngoài, ổ khóa xe vẫn cắm chìa khóa. Thấy không có người trông giữ nên D nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe môtô trên. D đi bộ lại vị trí dựng xe, ngồi lên xe rồi vặn chìa khóa điện thấy nổ được máy nên D điều khiển xe phóng đi. D điều khiển xe mô tô trộm cắp được đi tìm nơi bán xe lấy tiền tiêu sài cá nhân nhưng do chiếc xe đã cũ và trời tối, các cửa hàng đã đóng cửa nên D không bán được chiếc xe trên. D tiếp tục đi đến khu vực đường hướng vào khu Công nghiệp T thuộc phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thì bị tổ công tác phòng Cảnh sát Cơ động - Công an tỉnh P kiểm tra, phát hiện Cao Văn D không đội mũ bảo hiểm, xe mô tô D điều khiển không gắn biển kiểm soát. Quá trình kiểm tra, D không xuất trình được giấy tờ liên quan đến người và phương tiện nên tổ công tác lập biên bản tạm giữ phương tiện là chiếc xe mô tô Duy vừa trộm cắp được.
Ngày 10/4/2024, anh Nguyễn Kim T là chủ xe mô tô đã có đơn trình báo về việc bị trộm cắp xe mô tô đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V nhận được Công văn số 324/PK02-DD1 của Phòng cảnh sát cơ động Công an tỉnh P về việc trao đổi thông tin phương tiện nghi vấn đến vụ trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố đã xác minh và triệu tập Cao Văn D đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của bản thân.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 233/KL-HĐĐGTS ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố V kết luận: Giá 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đỏ đen, sản xuất năm 2009, biển kiểm soát 19R1-6449, Số máy: HC12E1297838, số khung: RLHHC12149Y096994, xe đã qua sử dụng, có giá là: 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô D trộm cắp đăng ký xe đứng tên bà Phan Thị T1, sinh năm 1971, HKTT: Khu A, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đỏ đen, sản xuất năm 2009, biển kiểm soát 19R1-6449, Số máy: HC12E1297838, số khung: RLHHC12149Y096994, đăng ký ngày 15/3/2009. Năm 2020, do không còn nhu cầu sử dụng nên bà T1 đã bán chiếc xe máy trên cho anh Nguyễn Thế K, với giá 9.000.000 đồng. Bà T1 và anh K có mối quan hệ quen biết từ trước, có viết giấy mua bán xe với nhau, bà T1 đã đưa cho anh K giấy tờ xe, chìa khoá, xe mô tô khi bán xe. Đến cuối năm 2020, anh Nguyễn Kim T đã mua lại chiếc xe mô tô trên của anh K với giá 7.500.000 đồng, mục đích để sử dụng, anh T và anh K có lập bản hợp đồng mua bán xe mô tô. Quá trình sử dụng, anh T đã làm rơi biển kiểm soát 19R1-6449 của xe và chưa kịp làm lại biển số xe.
2
Ngày 29/5/2024, anh Nguyễn Kim T có đơn xin nhận lại tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đỏ đen, sản xuất năm 2009, biển kiểm soát 19R1-6449, Số máy: HC12E1297838, số khung: RLHHC12149Y096994, xe đã qua sử dụng do D đã trộm cắp cho chủ tài sản là anh T và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.
Ngày 19/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can Cao Văn D về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Cao Văn D khai nhận như sau: Bị cáo thừa nhận nội dung bản cáo trạng là hoàn toàn đúng. Mục đích trộm cắp xe mô tô để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Sau khi trộm cắp xong do không bán được xe, bị cáo điều khiển xe và bị Công an kiểm tra tạm giữ. Chiếc xe bị cáo trộm cắp có giá 6.000.000 đồng và đã trả lại cho bị hại. Bị cáo không bị thu giữ gì. Bị cáo lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản gì.
Cáo trạng số 76/CT-VKS-VT ngày 05/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị can Cao Văn D về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì giữ quyền công tố giữ nguyên cáo trạng truy tố, công bố bản luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52; điều 38, khoản 2 điều 56 và khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự,
Xử phạt: Cao Văn D từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với hình phạt của Bản án số 18/2023/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ là 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội: “Trộm cắp tài sản” (bản án này bị cáo không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 11/4/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Xác nhận ngày 29/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trả lại cho anh Nguyễn Kim T chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đỏ đen, số máy: HC12E1297838, số khung: RLHHC12149Y096994 là hợp pháp;
-Về án phí: Bị cáo Cao Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa có căn cứ xác định: Khoảng 20 giờ ngày 30/3/2024, tại khu vực đường N thuộc tổ D, khu T, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Cao Văn D đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô của anh Nguyễn Kim T có giá trị 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng). Tài sản trộm cắp đã được thu giữ và trả lại cho bị hại là anh Nguyễn Kim T. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Cao Văn D phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều khoản trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm……………….”.
Đối với hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ của D không đội mũ bảo hiểm, xe mô tô không có gương chiếu hậu, không gắn biển kiểm soát, không có giấy phép lái xe và không có đăng ký xe đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nên Phòng cảnh sát cơ động Công an tỉnh P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Cao Văn D về hành vi vi phạm khi tham gia giao thông đường bộ, hình thức phạt tiền là: 3.950.000 đồng là phù hợp.
[3].Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, do vậy cần phải được xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự. Bị cáo là người có sức khỏe, hiểu biết xã hội và pháp luật nhưng không chịu lao động làm ăn lương thiện mà có hành vi trộm cắp tài sản để phục vụ nhu cầu cá nhân nên phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra. Năm 2023 bị cáo đã bị Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội: “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu
4
dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và bị cáo đang trong thời gian thử thách của án treo, lần phạm tội này bị cáo thực hiện với lỗi cố ý nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự. Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo sửa chữa được tội lỗi mà bị cáo đã phạm và trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Do bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của Bản án số 18/2023/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ nên cần áp dụng khoản 2 điều 56, khoản 5 điều 65 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
[4]. Về hình phạt bổ sung:
Tại khoản 5 điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng”. Xét thấy, bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật.
[5]. Về trách nhiệm dân sự:
Ngày 29/5/2024, bị hại anh Nguyễn Kim T đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là 1 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE do Cơ quan cánh sát điều tra Công an thành phố V trả lại và anh không có yêu cầu bồi thường, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã thu giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đỏ đen, sản xuất năm 2009, số máy: HC12E1297838, số khung: RLHHC12149Y096994, ngày 29/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trả lại chiếc xe trên cho anh T. Anh T nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì nên cần xác nhận.
[7].Về án phí: Bị cáo Cao Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; khoản 1 điều 38; khoản 2 điều 56; khoản 5 điều 65 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
Phạt C (Mười lăm) tháng tù, tổng hợp với hình phạt của Bản án số 18/2023/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
5
là 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội: “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 27 (Hai mươi bảy) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 11/4/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Xác nhận ngày 29/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trả lại cho anh Nguyễn Kim T chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đỏ đen, sản xuất năm 2009, số máy: HC12E1297838, số khung: RLHHC12149 Y096994 là hợp pháp;
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Cao Văn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hà Thu Hiền |
6
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn D phạm tội: Trộm cắp tài sản
