Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HS-PT

Ngày: 29/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Duy Hải.

Các Thẩm phán: Ông Trần Quang Cường và ông Đinh Hải Toàn.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng- Thư ký TAND tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Quỳnh Hoa- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 108/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thúy H do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ long, tỉnh Quảng Ninh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 233/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Bị cáo bị kháng nghị:

Họ và tên: Trần Thúy H, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1977, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ A, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi tạm trú: tổ F, khu D, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Đình Đ và bà Trần Thị S; không có chồng; có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2007: tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 18/6/2024, đến ngày 27/6/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh, có mặt.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ F, khu E, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
  2. Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; nơi cư trú: tổ C, khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
  3. Anh Nguyễn Thành T1, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ G, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
  4. Ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1970, nơi cư trú: tổ C, khu B, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
  5. Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1958, nơi cư trú: tổ G, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
  6. Ông Nguyễn Thế P, sinh năm 1958, nơi cư trú: tổ G, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
  7. Ông Đỗ Văn K, sinh năm 1960, nơi cư trú: tổ E, khu G, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
  8. Ông Vũ Đức T2, sinh năm 1967, nơi cư trú: tổ A, khu A, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
  9. Anh Trịnh Xuân T3, sinh năm 1984, nơi ĐKTT: tổ H, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; nơi tạm trú: tổ A, khu B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Tất cả đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 05 phút ngày 17/06/2024, Tổ công tác Đ2 Công an thành phố H phối hợp với Công an phường H, tiến hành kiểm tra hành chính tại khu vực vỉa hè thuộc tổ G, khu A, phường H, thành phố H phát hiện Trần Thúy H đang ngồi trên ghế nhựa, phía trước mặt có 01 bàn nhựa, trên bàn có để tờ phơ xổ số và giấy trắng có ghi các con số nghi là số lô, số đề. Cơ quan Công an đã mời H về trụ sở để làm việc, H xin đầu thú và khai nhận hành vi sử dụng điện thoại di động đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề qua tin nhắn “SMS” và ứng dụng “Zalo”. Thu giữ của H: số tiền 660.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A53 5G, màu hồng, lắp sim số 0342.208.616; 01 chiếc bút bi bằng nhựa, màu xanh, dài 15 cm; 01 bàn nhựa, màu đỏ, kích thước (63x40x70)cm; 02 ghế nhựa, màu đỏ, kích thước (32x30x70)cm; 01 tờ giấy trắng kích thước (15x10)cm, có ghi các con số; 01 tờ phơ xổ số kích thước (10x7)cm, có ghi các con số; 01 tập gồm nhiều tờ phơ xổ số kích thước (10x7)cm, không ghi nội dung.

Kết quả kiểm tra điện thoại trên của Trần Thúy H phát hiện H nhắn tin bằng tài khoản tên “Minh Hang” trên ứng dụng Zalo và tin nhắn SMS, kết quả xác định ngày 17/6/2024 H đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, dưới hình thức ghi bán số lô, số đề qua ứng dụng Zalo và tin nhắn SMS với 09 người sau:

  • H nhận tin nhắn đánh bạc của: Nguyễn Văn Q với số tiền là 644.500 đồng; của Nguyễn Thị T số tiền là 1.285.000 đồng; của Nguyễn Thành T1 số tiền là 1.080.000 đồng; của Nguyễn Ngọc H1 số tiền là 565.000 đồng; của Nguyễn Thị Q1 số tiền là 60.000 đồng; của Đỗ Văn K số tiền là 100.000 đồng; của Vũ Đ1 số tiền là 100.000 đồng; của Trịnh Xuân T3 tiền là 350.000 đồng; của Nguyễn Thế P số tiền là 670.000 đồng. Những người này đều chưa trả tiền cho H.
  • Trước đó, vào chiều cùng ngày 17/6/2024, P đã đến gặp H và mua được trực tiếp 420.000 đồng tiền số đề. Như vậy tổng số tiền P đánh bạc với H là 1.090.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trên: ngoài việc bán số đề cho 09 người nêu trên, bị cáo còn bán số để cho 04 người khác là người đi đường (không xác định được nhân thân lai lịch) với tổng 22 điểm số đề, với tổng số tiền là 240.000 đồng. Đối với tờ giấy màu trắng và tờ phơ có ghi các con số bị thu giữ là do bị cáo viết, thể hiện các số đề mà bị cáo bán trực tiếp cho 04 người đi đường không quen biết và số đề mà P đánh trực tiếp. Việc bán số lô, số đề do bị cáo tự làm, thắng, thua tự chịu. Đối với 09 người chơi nhắn tin qua điện thoại, thì bị cáo chưa thu tiền của ai, trừ P đã trả trực tiếp cho bị cáo 420.000 đồng và 04 người đi đường trả cho bị cáo 240.000 đồng, tổng số tiền bị cáo thu được là 660.000 đồng, đây chính là số tiền bị Cơ quan Công an thu giữ khi kiểm tra bị cáo.

Tổng số tiền bị cáo đã ghi bán số lô, số đề cho Q, T, T1, H1, Q1, K, T2, T3, P và 04 người đi đường trong ngày 17/6/2024 là 5.514.500 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 233/2024/HS-ST ngày 24/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã căn cứ vào: khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, các điểm a, b và c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Xử phạt bị cáo Trần Thúy H 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24 tháng 9 năm 2024), về tội “Đánh bạc”.
  2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 420.000đ (bốn trăm hai mươi nghìn đồng) ....;
  3. Trả lại cho bị cáo Trần Thúy H số tiền 240.000đ (hai trăm bốn mươi nghìn đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/10/2024, VKSND TP. Hạ Long kháng nghị một phần bản án sơ thẩm trên về xử lý vật chứng, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm theo hướng tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 240.000 đồng thu giữ của bị cáo H với lý do Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm tuyên trả bị cáo Hằng số tiền 240.000 đồng trên là trái với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh và hình phạt: quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Thúy H đều khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Sau xét xử sơ thẩm không ai kháng cáo, kháng nghị gì về tội danh, điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo H một lần nữa khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã nêu, do đó tội danh và hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nên căn cứ điều 330 và điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét lại.

[3] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long về phần xử lý vật chứng trong Bản án số 233/2024/HS-ST ngày 24/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Nhận thấy: sau khi kiểm tra hành chính và bị thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan đến việc đánh bạc của bị cáo, trong đó có thu giữ: số tiền 660.000 đồng; 01 tờ giấy trắng và tờ phơ có ghi các con số do chính bị cáo viết, thể hiện các số đề mà bị cáo bán trực tiếp cho 04 người đi đường không quen biết và số đề mà bị cáo trực tiếp bán cho P.

Quá trình điều tra, tại phiên toà sơ thẩm và tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo H khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận trong số tiền 660.000₫ bị thu giữ có: 420.000 đồng là tiền bị cáo bán số đề trực tiếp cho Nguyễn Thế P và 240.000 đồng là tiền bị cáo bán số đề trực tiếp cho 04 người khách qua đường không quen biết; bị cáo đã ghi số đề của những người mua này (bao gồm là số đề bán cho P) vào tờ giấy trắng và tờ phơ bị thu giữ khi bị Công an kiểm tra hành chính.

Hội đồng xét xử nhận thấy, mặc dù quá trình điều tra không xác định được 04 đối tượng khách qua đường mua số đề của bị cáo là ai, nhưng căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo về việc chiều ngày 17/6/2024 bị cáo có bán 22 điểm số đề cho 04 khách qua đường thu tổng số tiền là 240.000đồng và căn cứ vào nội dung ghi chép tại tờ giấy trắng và tờ phơ thu được của bị cáo có nội dung phù hợp với lời khai của bị cáo về việc bán số đề cho 04 đối tượng trên. Do đó đủ cơ sở xác định số tiền 240.0000đ thu giữ của bị cáo là tiền do bị cáo bán số đề mà có. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo khẳng định số tiền 240.000 đồng mà Công an thu giữ khi kiểm tra hành chính không phải là tiền riêng của bị cáo mà là tiền của 04 đối tượng không quen biết đã trả cho bị cáo khi mua số đề do bị cáo bán. Do đó đủ cơ sở xác định đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Việc cấp sơ thẩm tuyên trả bị cáo số tiền này là không đúng quy định của pháp luật.

Từ sự phân tích trên, có căn cứ để chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long về xử lý số tiền 240.000đồng trên.

[4] Nội dung khác: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố bị cáo Trần Thúy H về hành vi đánh bạc với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 5.514.500 đồng. Toà án cấp sơ thẩm xác định bị cáo đánh bạc với số tiền 5.274.500 đồng, từ đó xét xử bị cáo về tội đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc là 5.274.500 đồng, là không đúng, bởi lẽ như đã phân tích ở trên thì số tiền 240.000đồng thu giữ của bị cáo được xác định là tiền dùng để đánh bạc, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với cả số tiền 240.000đồng này như Viện kiểm sát truy tố mới đúng. Tuy nhiên, mặc dù Toà án cấp sơ thẩm chỉ xác định bị cáo đánh bạc với tổng số tiền là 5.274.500 đồng, nhưng mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp với số tiền bị cáo đánh bạc (như Viện kiểm sát truy tố) nên không cần thiết phải sửa án sơ thẩm về nội dung này, nhưng cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[5] Về án phí: bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b khoản 1 điều 355; điểm d khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận nội dung kháng nghị phúc thẩm số 4774/QĐ-KNPT ngày 07/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, sửa bản án hình sự sơ thẩm 233/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh về phần vật chứng.

Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 660.000đ (sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Trần Thúy H.

(Tình trạng số tiền theo Biên bản giao nhận tài sản số: 102/2024/BBBG-CQCSĐT CATP H kèm theo Phiếu nhập kho cùng ngày 02 tháng 7 năm 2024 (gói gửi số: 1470) giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và Kho bạc Nhà nước tỉnh Q).

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CA, VKS, TAND, Chi cục THADS
  • TP. Hạ Long;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Duy Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 84/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thúy Hằng phạm tội “Đánh bạc”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger