Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 84/2024/HS-PT
Ngày: 01/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân

Các Thẩm phán: 1/ Ông Phạm Văn Bình

2/ Ông Bùi Thanh Quốc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 130/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Lê Minh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Minh T, sinh ngày 15/8/2007, tại Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: 8 đường P, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ; nơi ở hiện nay: B đường C, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng T1, sinh năm 1978 và bà Bùi Mỹ T2, sinh năm 1979; anh ruột: có 02 người, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án: chưa; tiền sự: chưa.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo:Bùi Mỹ T2 – Mẹ ruột của bị cáo. (Có mặt)

Địa chỉ: 8 đường P, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Minh T: Ông Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1984. Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố C. (Có mặt)

Trong vụ án, còn có các bị cáo, người bị hại không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 04 tháng 11 năm 2023, công an phường A nhận được tin báo của ông Trần Hồng M về việc bị 02 đối tượng cướp giật điện thoại di động.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, trích xuất camera gần hiện trường và mời Lê Minh T, sinh ngày 15/8/2007 và Nguyễn Tô Phú T3, sinh ngày 28/12/2008 lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra, T và T3 khai nhận: Vào khoảng 8 giờ ngày 04/11/2023, Lê Minh T cùng Nguyễn Tô Phú T3, khi đang đi bộ từ quán B đến quán C thuộc phường A, quận B để uống cà phê. Khi đi ngang hẻm I đường C, phường A, quận B thì T nhìn thấy ông Trần Hồng M đang ngồi trồng rau và có để điện thoại di động phía sau lưng quần nên T nảy sinh ý định giật điện thoại của ông M để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lúc này, T hỏi T3 “đi kiếm tiền không” T3 đồng ý và T3 hỏi T nói xe đâu mà đi. Lúc này,T đi vào quán C mượn xe mô tô biển số 64AC-133.30 của AMATH MOTT APHAS là bạn của T3 và T. Sau khi mượn được xe mô tô, T3 chở T đến đầu hẻm I, đường C thuộc phường A, quận B thì dừng lại và Tín chỉ cho T3 vị trí ông Trần Hồng M đang ngồi và điện thoại di động sau quần của ông M, T rủ T3 giật điện thoại di động thì T3 đồng ý. T và T3 thống nhất T3 điều khiển xe mô tô chạy gần người đàn ông cho T giật điện thoại. Khi đến gần vị trí ông M đang ngồi, T3 điều khiển xe mô tô chậm lại để T giật nhưng không giật được. T3 chở T đến đầu hẻm I thì T3 và T tiếp tục giả vờ xe mô tô bị hư dẫn qua người đàn ông để giật điện thoại nhưng vẫn không giật được. Sau đó, T3 tiếp tục điều khiển xe mô tô chở T ngồi phía sau chạy chậm và áp sát vị trí ông M đang ngồi, lúc này T nghiêng người sang trái dùng tay giật lấy điện thoại di động của ông M. Khi T giật được điện thoại, ông M truy hô thì T3 tăng ga xe mô tô bỏ chạy.

Tang vật thu giữ: 02 nón bảo hiểm loại nón kết màu trắng; 01 xe mô tô biển số 64AC-133.30; 01 khẩu trang màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen có gắn ốp lưng bằng da màu đen; 01 áo thun màu trắng, cổ màu đen tay ngắn, trước ngực áo có đường kẻ màu đen, trắng, đỏ và hàng chữ “TOMMY HILFIGER; 01 quần Jean lửng màu xanh, trên quần có hàng chữ “1964”, 01 quần Jean lửng màu trắng, trên đùi quần có nhiều vết rách; 01 áo thun màu đen cổ tròn, tay ngắn, phía trước ngực áo có hình em bé màu trắng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 42 ngày 27/11/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận B kết luận: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XR màu đen có trị giá 3.300.000 đồng, đối với ốp lưng bằng da màu đen không còn giá trị mua bán trên thị trường.

Cơ quan điều tra đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XR màu đen có gắn ốp lưng bằng da màu đen cho ông Trần Hồng M. Hiện tại ông M không có yêu cầu gì thêm.

Đối với xe mô tô biển số 64AC-133.30, qua xác minh chủ sở hữu xe mô tô là Nguyễn Nhật T4. Vào tháng 08 năm 2023, T4 đã bán xe mô tô trên cho Nguyễn Hoàng T5. Ngày 04/11/2023 T5 cho A mượn xe mô tô để đi uống cà phê. Việc T3 và T lấy xe mô tô của T5 đi cướp giật tài sản thì T5 và AMATH MOTT APHAS không biết. Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại xe mô tô biển số 64AC- 133.30 cho Nguyễn Hoàng T5.

Tại Cáo trạng số: 43/CT-VKSBT ngày 03/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy đã truy tố Nguyễn Tô Phú T3, Lê Minh T về tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại bản án hình sự số 43/2024/HS-ST ngày 28/6/2024, Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 38, Điều 91; khoản 1 Điều 101; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tô Phú T3 về cùng tội danh; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 12/7/2024 bị cáo Lê Minh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo vẫn giữ yêu cầu kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo – bà Bùi Mỹ T2 trình bày: Bà có dự phiên tòa sơ thẩm, biết và đồng ý việc bị cáo kháng cáo. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn không có điều kiện cho bị cáo đi học, bà và cha của bị cáo phải lo bươn chãi kiếm sống nên ít có thời gian gần gũi với bị cáo; bị cáo còn nhỏ suy nghĩ nông cạn, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo hưởng án treo.
  • - Người bào chữa cho bị cáo – ông Nguyễn Hoàng D phát biểu và tranh luận: Cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự là có sai lầm nghiêm trọng. Nghị quyết hướng dẫn về tội cướp giật tài sản theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 không còn hiệu lực và hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn thế nào là dùng thủ đoạn nguy hiểm. Mặc khác, thời điểm bị cáo thực hiện hành vi giật tài sản người bị hại không điều khiển xe và cũng không đi bộ mà đang ngồi, cấp sơ thẩm chưa tiến hành thực nghiệm để xác định tư thế của bị cáo khi giật tài sản và lực tác động của bị cáo đến người bị hại nên chưa có cơ sở cho rằng hành vi của bị cáo sẽ gây nguy hại cho người bị hại. Trong vụ án này, bị cáo T3 và bị cáo T đều là chưa thành niên nhưng Tòa cấp sơ thẩm xét cho bị cáo T3 hưởng án treo còn bị cáo T thì buộc phải chấp hành hình phạt tù là chưa đảm bảo nguyên tắc áp dụng pháp luật khi quyết định hình phạt. Bị cáo T chưa thành niên, có hoàn cảnh gia đình khó khăn không có điều kiện đi học nên khả năng nhận thức pháp luật bị hạn chế, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, người bị hại có đơn xin bãi nại đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do chưa áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với T3 nên đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng này đối với bị cáo T. Đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà nhận định và tranh luận: Mặc dù chưa có nghị quyết hướng dẫn tình tiết dùng thủ đoạn nguy hiểm đối với tội cướp giật tài sản theo quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 – sửa đổi bổ sung năm 2017 nhưng tình tiết dùng thủ đoạn nguy hiểm đã được hướng dẫn trong thông tư liên tịch số 01/2001, cấp sơ thẩm áp dụng tinh thần hướng dẫn theo thông tư này khi xử lý vụ án là phù hợp. Với hành vi bị cáo đã thực hiện cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 là có căn cứ.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo T3 chưa đủ 16 tuổi còn bị cáo T đã hơn 17 tuổi, mức độ nhận thức về pháp luật của bị cáo T phải cao hơn bị cáo T3, quy định của pháp luật khi áp dụng chế tài hình sự cho từng độ tuổi cũng có sự khác biệt rõ rệt do đó việc cấp sơ thẩm đánh giá, quyết định hình phạt đối với T3 và T như đã tuyên trong bản án sơ thẩm là phù hợp.

Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo T theo quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa xem xét đánh giá việc người bị hại có đơn xin bãi nại đối với bị cáo là có thiếu sót, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, người bị hại đã hơn 70 tuổi nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là có thiếu sót; Tại phiên tòa phúc thẩm, qua phần xét hỏi đã làm rõ mẹ của bị cáo T là bà Bùi Mỹ T2 có dự phiên tòa sơ thẩm nhưng cấp sơ thẩm không ghi nhận ý kiến của bà T2 và không thể hiện trong biên bản phiên tòa là có thiết sót. Đề nghị cần rút kinh nghiệm đối với các thiếu sót đã phân tích như trên.

Với các phân tích trên, kiểm sát viên đánh giá mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo T là phù hợp, việc buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn là cần thiết nên đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 8 giờ ngày 04/11/2023, tại hẻm I đường C, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ Lê Minh T và Nguyễn Tô Phú T3 đã có hành vi cướp giật điện thoại di động của người bị hại là ông Trần Hồng M. Khi thực hiện hành vi cướp giật bị cáo Lê Minh T và Nguyễn Tô Phú T3 đã sử dụng xe mô tô nhanh chóng áp sát người bị hại và nhanh chóng bỏ chạy khỏi hiện trường. Hành vi của Lê Minh T và Nguyễn Tô Phú T3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo, thấy rằng:

Hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyển sở hữu tài sản của công dân mà còn tác động xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, vận dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng theo quy định của pháp luật. Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt là có căn cứ.

Trong vụ án này, mặc dù T và T3 đều chưa thành niên nhưng bị cáo T lớn tuổi hơn bị cáo T3; sau khi phát hiện ra tài sản muốn chiếm đoạt bị cáo T đã rủ T3 cùng thực hiện và T là người đi mượn xe mô tô để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, mức hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng đối với từng bị cáo không trái quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù người bị hại không được triệu tập nhưng tiếp tục gửi đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với người bị hại đã hơn 70 tuổi nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là có thiếu sót. Tuy nhiên, sau khi xét xử không có kháng cáo, kháng nghị về nội dung này nên thống nhất với đề nghị của người bào chữa không áp dụng thêm tình tiết tăng nặng này.

Xét bị cáo T có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có điều kiện để đến trường, cha mẹ bị cáo đều thuộc thành phần lao động, lo mưu sinh không có thời gian để gần gũi, giáo dục; bị cáo chưa thành niên, suy nghĩ chưa chín chắn, dễ bị ảnh hưởng từ những tác động xấu ngoài xã hội nên có cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Ngoài ra, Hội đồng xét xử thống nhất đánh giá của Kiểm sát viên về các thiếu sót của cấp sơ thẩm. Đề nghị cấp sơ thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm.

[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Minh T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  2. Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  3. Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.
  5. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND CC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - Cơ quan tố tụng Q. Bình Thủy;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Bích Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-PT ngày 01/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về cướp giật tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 84/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Minh T tội cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger