Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ GIÁ RAI

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-07-2024

“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Yến Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phan Quốc Lâm

2/ Ông Võ Minh Thiện

Thư ký ghi biên bản phiên tòa phiên tòa: Ông Trần Minh Luân- Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai-tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Giang- Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 167/2024/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXX - HNGĐ ngày 26 tháng 06 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Như Y– sinh năm 1989

Địa chỉ: Ấp KT B, xã TP, thị xã GR, tỉnh BL

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh S– sinh năm 1989

Địa chỉ: Ấp KT B, xã TP, thị xã GR, tỉnh BL

( Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong hồ sơ của bà Lê Như Y trình bày: Bà và ông Nguyễn Thanh S chung sống với nhau năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phong, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu nay là thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Quá trình chung sống có 03 người con tên Nguyễn Chí K sinh ngày 08/02/2008, Nguyễn Như M sinh ngày 28/01/2016 và Nguyễn Chí K1 sinh ngày 17/01/2022, hiện nay cháu K và cháu M đang sống với ông S, bà Y đang nuôi dưỡng cháu K1. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên mâu thuẫn, cự cãi, không có tiếng nói chung, hiện nay bà Y không muốn hàn gắn lại hạnh phúc vợ chồng, không còn tình cảm với ông S.

Về quan hệ vợ chồng: Bà Lê Như Y yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh S.

Về quan hệ con chung: Bà Lê Như Y tự nguyện giao cháu K và cháu M cho ông Nguyễn Thanh S tiếp tục nuôi dưỡng, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K1 vì cháu còn nhỏ và xin tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Đối với ông Nguyễn Thanh S: Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Thanh S nhưng ông không đến tòa để thể hiện ý kiến của mình, không tham gia phiên họp công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải.

* Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, đúng thời hạn chuẩn bị xét xử, gửi các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử (HĐXX) có đầy đủ thành viên và thư ký phiên tòa, từ khi thụ lý đến khi xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không có mặt lần thứ hai nên toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai về nội dung vụ án là áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và các Điều 56, 81, 82,83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Như Y đối với ông Nguyễn Thanh S; Giao 02 người con tên Nguyễn Chí K sinh ngày 08/02/2008, Nguyễn Như M sinh ngày 28/01/2016 cho ông Nguyễn Thanh S tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục; Giao cháu Nguyễn Chí K1 sinh ngày 17/01/2022 cho bà Lê Như Y tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục, tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi cho bà Lê Như Y và ông Nguyễn Thanh do bà Y và ông S đều không yêu cầu, không đặt ra xem xét về tài sản và nợ do đương sự không yêu cầu.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bà Lê Như Y có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Thanh S vắng mặt không lý do, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà Y và ông S theo quy định tại điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Như Y và ông Nguyễn Thanh S chung sống với nhau năm 2007, trên tinh thần tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Phong, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, vì vậy theo quy định của pháp luật thì hôn nhân của bà Y và ông S là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, bà Y và ông S có nhiều bất đồng về quan điểm sống, thường cự cãi. bà Y rời khỏi gia đình chồng và để con lại 02 cháu K và M cho ông S nuôi, còn cháu K1 thì bà Y đang nuôi dưỡng. Nay bà Y yêu cầu xin ly hôn với ông S vì không còn tình cảm. Hội đồng xét xử (HĐXX) xét thấy tình nghĩa vợ chồng phải dựa trên sự thương yêu, tôn trọng, chăm sóc nhau, cùng nhau chia sẽ công việc trong gia đình nhưng bà Y xác định không còn yêu thương ông S, vợ chồng ông bà không ai quan tâm, tới lui chăm sóc ai. Ông S không hợp tác theo giấy triệu tập hoà giải của Toà án, Toà án không tiến hành hoà giải hôn nhân cho vợ chồng ông bà được là do ông S vắng mặt 2 lần, ông S không có thiện chí hàn gắn. HĐXX xét thấy mối quan hệ hôn nhân của bà Y và ông S thật sự rạn nứt, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Như Y đối với ông Nguyễn Thanh S.
  3. Về quan hệ con chung: Bà Y và ông S có 03 người con tên Nguyễn Chí K sinh ngày 08/02/2008, Nguyễn Như M sinh ngày 28/01/2016 và Nguyễn Chí K1 sinh ngày 17/01/2022, bà Y tự nguyện giao cháu K và cháu M cho ông S tiếp tục nuôi dưỡng và yêu cầu được nuôi cháu K1. Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con cho ai nuôi thì xem xét về mọi mặt và quyền lợi của các con chưa thành niên. Qua xác minh tại địa phương, ông S đang nuôi cháu K và cháu M, bà Y đang nuôi cháu K1. Theo ý kiến của cháu K và cháu M đều muốn ở với cha, cháu K1 còn quá nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ. Ông Nguyễn Thanh S không hợp tác theo sự triệu tập của toà, không cho toà án ghi lời khai, không thể hiện yêu cầu cấp dưỡng là ông Nguyễn Thanh S đã từ bỏ quyền trình bày ý kiến nguyện vọng của mình. Trường hợp sau này một bên không có khả năng nuôi con, mà một bên có khả năng về kinh tế để đảm bảo nuôi con thì có quyền làm đơn yêu cầu cấp dưỡng cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao 02 người con tên Nguyễn Chí K sinh ngày 08/02/2008, Nguyễn Như M sinh ngày 28/01/2016 cho ông Nguyễn Thanh S tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục; Giao cháu Nguyễn Chí K1 sinh ngày 17/01/2022 cho bà Lê Như Y tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục; Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi cho bà Lê Như Y và ông Nguyễn Thanh do bà Y và ông S đều không yêu cầu.
  4. Về quan hệ tài sản chung và nợ: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt xem xét giải quyết.
  5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Y phải chịu theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên ghi nhận.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51,56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội .

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Như Y đối với ông Nguyễn Thanh S.
  2. Về quan hệ con chung: Giao 02 người con tên Nguyễn Chí K sinh ngày 08/02/2008, Nguyễn Như M sinh ngày 28/01/2016 cho ông Nguyễn Thanh S tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục; Giao cháu Nguyễn Chí K1 sinh ngày 17/01/2022 cho bà Lê Như Y tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục; Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà Y và ông S.
  3. Bà Lê Như Y và ông Nguyễn Thanh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con do mình không trực tiếp nuôi, mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  4. Về quan hệ tài sản và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. Về án phí hôn nhân và gia đình: Bà Lê Như Y phải nộp 300.000 đồng nhưng bà Lê Như Y đã dự nộp 300.000 đồng, tại biên lai thu số 0008598 ngày 27/03/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Giá Rai được chuyển thu án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các đương sự vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -Toà án tỉnh;
  • -VKS cùng cấp;
  • -Thi hành án;
  • -Đương sự;
  • -UBND xã, phường nơi đương sự ĐKKH
  • -Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

LÊ YẾN NGỌC

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: YYYY
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger