Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26 - 8 - 2024

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Thêu;

Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Bà Vũ Thị Kim Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 126/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 62/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Khánh H, sinh năm 1996

Địa chỉ: Xóm A, thôn N, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Anh Trần Văn Q, sinh năm 1991

Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình;

Hiện nay đang sinh sống và làm việc tại Nga.

(Các đương sự đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Võ Thị Khánh H trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn Q tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 23 tháng 12 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng chị chung sống hoà thuận, hạnh phúc. Đầu năm 2021, chị và anh Q xảy ra mâu thuẫn,thường xuyên cãi vã nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Vì kinh tế gia đình khó khăn nên cuối năm 2021 anh Q đi xuất khẩu lao động tại Liên bang N. Trong khoảng thời gian anh Q ở nước ngoài, mâu thuẫn giữa anh chị càng trở nên trầm trọng, vì vợ chồng mỗi người ở một nơi, tình cảm vợ chồng dần rạn nứt. Anh Q không còn chia sẻ, quan tâm tới chị và giúp đỡ chị trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.

+Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Trần Như Q1 sinh ngày 10/02/2017 và cháu Trần Tiểu Vi s ngày 16/6/2020. Hiện nay cả hai cháu đang được chị trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị đề nghị Toà án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H1 cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/con/tháng.

+Về tài sản và nợ chung: Chị và anh Q không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án anh Trần Văn Q vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Toà án tiến hành thu thập lời khai của bà Phạm Thị T, sinh năm 1960; Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình (là mẹ đẻ của anh Q), bà T trình bày:Chị H và anh Q kết hôn vào ngày 23 tháng 12 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vì kinh tế gia đình khó khăn nên anh Q đi lao động tại Nga. Trong khoảng thời gian anh Q đi nước ngoài, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, gia đình hai bên nhiều lần hoà giải nhưng không thể hàn gắn. Bà T đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Toà án và đã thông báo cho anh Q, anh Q biết việc Toà án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị H và anh Q nhưng do công việc bận mải nên anh Q không về làm việc được và có nhờ bà T thông báo với Toà án về việc anh Q đồng ý ly hôn chị H. Vợ chồng chị H và anh Q có 02 con chung là cháu Trần Như Q1 sinh ngày 10/02/2017 và cháu Trần Tiểu Vi s ngày 16/6/2020. Hiện nay cả hai cháu đang được chị H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Bà T trình bày chị H và anh Q không có tài sản chung, không có nợ chung, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, cháu Trần Như Q1 (là con chung của chị Võ Thị Khánh H và anh Trần Văn Q) có đơn trình bày nguyện vọng được ở với chị H khi anh chị ly hôn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung, có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Hiện tại anh Trần Văn Q đang lao động ở Liên bang N nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

[1.2] Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho anh Trần Văn Q nhưng anh Q không tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến; chị H có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Võ Thị Khánh H và anh Trần V.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Võ Thị Khánh H và anh Trần Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quan hệ hôn nhân của chị H và anh Q không hạnh phúc được chứng minh qua lời khai của chị H và lời khai của bà T (mẹ đẻ của anh Q).Việc chị H và anh Q xảy ra mâu thuẫn từ đầu năm 2021, khi anh Q đi lao động tại Liên bang N thì không còn quan tâm, hỏi han chị H vậy có thể thấy mâu thuẫn đã xảy trong khoảng thời gian dài. Khi chị H xin ly hôn, anh Q biết nhưng không muốn hàn gắn và đồng ý ly hôn chứng minh cả hai anh chị không muốn duy trì hôn nhân nữa. Như vậy khẳng định mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần xử cho chị H được ly hôn với anh Q là đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về nuôi con chung: Chị H và anh Q có 02 con chung là cháu Trần Như Q1 sinh ngày 10/02/2017 và cháu Trần Tiểu Vi s ngày 16/6/2020. Hiện nay cả hai cháu đang được chị H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Ly hôn, chị H có nguyện vọng được nuôi 02 con chung. Xét thấy, cháu Tiểu V1 còn nhỏ, cháu Như Q1 có nguyện vọng được ở với chị H. Hiện tại cả hai cháu đang sinh sống ổn định, được học tập, chăm sóc, phát triển tốt. Anh Q đi lao động tại Liên bang N nên không thể trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung. Bên cạnh đó trong quá trình giải quyết vụ án anh Q vắng mặt, không có ý kiến về việc nuôi con chung. Bà T (mẹ đẻ của anh Q) đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi con chung của chị H và anh Q theo quy định của pháp luật. Vì vậy, giao cháu Trần Như Q1 và cháu Trần Tiểu V2 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Chị H yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/con/tháng, anh Q đang ở nước ngoài không có văn bản trình bày ý kiến, bà T (mẹ đẻ anh Q) đề nghị Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy đây anh Q đang lao động ở nước ngoài nên mức góp cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng đối với một con chung là mức cấp dưỡng phù hợp.

[2.3] Về chia tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung; anh Q2 mặt, không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không giải quyết về quan hệ tài sản trong vụ án này.

[2.4] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh Q phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[3] Xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Võ Thị Khánh H. Hội đồng xét xử thấy, đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Võ Thị Khánh H được ly hôn anh Trần Văn Q.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Võ Thị Khánh H trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Trần Như Q1 sinh ngày 10/02/2017 và cháu Trần Tiểu Vi s ngày 16/6/2020. Anh Trần Văn Q phải cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/con/tháng, tổng hai con chung là 4.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 9 năm 2024 cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi.

Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về chia tài sản: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Võ Thị Khánh H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng chị H nộp tại biên lai số 0000192 ngày 27/5/2024 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm. Anh Q phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung 300.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Võ Thị Khánh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Anh Trần Văn Q3 quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - Cục THA Dân sự tỉnh Thái Bình;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Minh Lãng, huyện Vũ Thư;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger