|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/DS-PT
Ngày: 16/7/2024
V/v: “Tranh chấp HĐ vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Lê Thị Dung |
| Các Thẩm phán: | Bà Lê Thị Tân |
| Bà Lê Thị Phương Thanh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hoá
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Bà Lữ Thị Phương Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 54/2024/TLPT-DS, ngày 10 tháng 6 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa bị kháng nghị của VKSND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐ-PT ngày 02/7/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Minh T, sinh năm 1951; Có mặt
- Địa chỉ: khu phố C, thị trấn V, huyện V, Thanh Hóa
- * Bị đơn: Ông Nguyễn Trí A, sinh năm 1992; Có mặt
- Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa
- Công tác tại: Chi cục Thuế huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà có mặt nguyên đơn và bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Hoàng Thị Minh T trình bày.
Bà và ông A có quan hệ quen biết, từ năm 2014 đã nhiều lần ông A vay tiền của bà, do ông A không trả tiền cho bà nên vào ngày 24/4/2021, giữa bà T và ông A có lập Biên bản thỏa thuận làm việc với nhau, theo đó ông A nợ bà T số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu) đồng, xác định thời gian vay là từ năm 2018, hai bên thỏa thuận là hàng tháng ông A sẽ trả nợ cho bà số tiền là: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), được trả vào ngày 15 dương lịch hàng tháng cho đến khi trả hết nợ. Khi lập biên bản thỏa thuận làm việc hai bên không thỏa thuận về lãi suất. Tuy nhiên, từ khi hai bên chốt nợ vào ngày 24/4/2021, ông A đã không thực hiện trả tiền hàng tháng cho bà nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Trí A phải trả nợ cho bà số tiền gốc là 150.000.000đ, tiền lãi tính từ ngày 01/8/2018 đến ngày 10/10/2023 là 150.000.000₫ x1,65%/tháng x 62 tháng rưỡi = 149.200.000đ. Tổng cộng cả gốc và lãi là 299.200.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T xác nhận lại số tiền 150.000.000đ ghi trong biên bản thỏa thuận làm việc thì có 136.000.000đ (Một trăm ba mươi sáu triệu đồng) tiền gốc và 14.000.000đ tiền lãi mà ông A còn nợ lại từ trước ngày 24/4/2021.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Nguyễn Trí A trình bày:
Bà Hoàng Thị Minh T làm dịch vụ cho vay tiền nên đã nhiều lần ông vay tiền của bà T, trước ngày 24/4/2021 ông đã nhiều lần trả tiền lãi cho bà T. Vào ngày 24/4/2021 giữa ông và bà T đã lập biên bản thỏa thuận làm việc với nhau, theo đó ông có vay của bà T số tiền 150.000.000đ, trong biên bản thỏa thuận thì hàng tháng ông sẽ trả nợ cho bà T số tiền 1.000.000đ, hai bên không thỏa thuận tiền lãi suất. Nay bà T đòi nợ ông số tiền gốc 150.000.000₫ và tiền lãi suất 149.200.000đ thì ông xin trả số tiền gốc theo thỏa thuận cho bà T là 150.000.000 đồng, trả dần hàng tháng mỗi tháng 2.000.000₫, ông thừa nhận trong số tiền 150.000.000₫ ghi trong biên bản thỏa thuận thì chỉ có 136.000.000đ tiền gốc, còn 14.000.000đ là tiền lãi từ trước cộng vào.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Căn cứ: Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Khoản 2 Điều 468 Bộ Luật Dân Sự năm 2015; Điểm b Khoản 1 Điều 24; Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- - Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Hoàng Thị Minh T.
- - Buộc ông Nguyễn Trí A phải trả cho bà Hoàng Thị Minh T số tiền là: Gốc: 136.000.000đ; lãi: 54.800.000 đồng. Tổng là: 190.800.000 (Một trăm chín mươi triệu tám trăm nghìn) đồng
Ngoài ra Bản án còn tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.
* Tại Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS ngày 21/5/2024, VKSND huyện Thọ Xuân kháng nghị bản án sơ thẩm, với nội dung: Kháng nghị một phần Bản án Dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa về phần tính số tiền nợ gốc, tính lãi suất đối với khoản nợ, tính án phí dân sự sơ thẩm và áp dụng điều luật. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa Bản án dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
2
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá vẫn giữ nguyên kháng nghị.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- + Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung và quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 BLTTDS; khoản đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị HĐXX: Chấp nhận kháng nghị của VKSND huyện Thọ Xuân, sửa Bản án sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa về phần tính số tiền nợ gốc, tính lãi suất đối với khoản nợ, tính án phí dân sự sơ thẩm và áp dụng điều luật.
- + Về án phí: Ông Nguyễn Trí A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương đương với số tiền phải trả cho bà T.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án sơ thẩm. VKSND huyện Thọ Xuân có quyết định kháng nghị trong hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá thấy rằng:
Bản án Dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa có những vi phạm sau:
1. Vi phạm trong việc xác định số tiền nợ gốc và thời điểm tính tiền nợ lãi:
Tại phần nhận định Tòa án nhận định như sau: " Hội đồng xét xử thấy rằng, trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn là bà T đã xuất trình "Biên bán thỏa thuận làm việc" giữa bà và ông A (giấy gốc). Trong đó thể hiện việc bà cho ông A vay số tiền 150.000.000 đồng. Tại phiên tòa bà T và ông A đều công nhận là bà T đã cho ông A vay số tiền gốc là 136.000.000 đồng và 14.000.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng ông A nợ của bà T 150.000.000 đồng, như vậy có căn cứ để chấp nhận là buộc ông Nguyễn Trí A phải trả nợ cho bà T số tiền gốc là 136.000.000đ ( Một trăm ba mươi sáu triệu đồng).
Về lãi suất: Áp dụng: Điều 357; Điều 463; Điều 466; Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc ông A phải trả cho bà T số tiền lãi từ ngày 24/4/2021 đến ngày 25/4/2024 là 136.000.000đ x 3 năm, x 10%/năm = 40.800.000đ. Tổng số tiền lãi là 40.800.000đ + 14.000.000 = 54.800.000 (Năm mươi tư triệu tám trăm nghìn) đồng".
Trên cơ sở nhận định trên Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu của bà Hoàng Thị Minh T, buộc ông Nguyễn Trí A phải trả nợ số tiền đã vay cho bà T: số
3
tiên gốc là 136.000.000 đồng, lãi là 54.800.000 đồng. Tổng cộng là 190.800.000 đồng (Một trăm chín mươi triệu tám trăm nghìn đồng). Tòa án nhận định và quyết định như trên là không đúng, không đảm bảo quyền lợi của đương sự. Bởi lẽ:
- Về số tiền nợ gốc: Tòa án chấp nhận tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là Biên bản thỏa thuận làm việc ngày 24/4/2021 để khẳng định ông A có nợ bà T số tiền 150.000.000 đồng, nhưng khi cả nguyên đơn và bị đơn trình bày nguồn gốc số tiền 150.000.000 đồng là gồm tiền gốc 136.000.000 đồng và tiền lãi 14.000.000 đồng thì Tòa án lại tách khoản tiền 150.000.000 đồng mà đã được cả nguyên đơn và bị đơn đồng ý ký kết ngày 24/4/2021 là tiền gốc và tiền lãi để buộc bị đơn trả số tiền gốc là 136.000.000 đồng là không đúng. Bởi vì, dù trước thời điểm ngày 24/4/2021 ông A có vay của bà T nhiều lần tiền mà chưa trả được tiền gốc và tiền lãi, nhưng đến thời điểm ngày 24/4/2021 giữa ông A và bà T đã chốt lại số tiền nợ với nhau, như vậy đây là một thỏa thuận vay nợ mới được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện nên có hiệu lực, các giấy vay nợ cũ không còn hiệu lực. Theo như trong biên bản thỏa thuận đã chốt ngày 24/4/2021, thì ông A nợ bà T số tiền 150.000.000 đồng. Do vậy, nay bà T yêu cầu Tòa án buộc ông A phải trả cho bà số tiền gốc 150.000.000 đồng là có căn cứ, cần được chấp nhận toàn bộ số tiền nợ gốc bà T yêu cầu.
- Về số tiền nợ lãi: Tòa án nhận định và căn cứ khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự để quyết định lãi suất là có căn cứ nhưng chưa xác định đúng thời điểm tính lãi; Tòa án xác định số tiền gốc buộc bị đơn phải trả chưa đúng nên dẫn đến số tiền lãi buộc bị đơn phải trả cũng chưa chính xác, chưa đảm bảo quyền lợi của đương sự. Theo Biên bản thỏa thuận làm việc ngày 24/4/2021 giữa bà T và ông A thì không có thỏa thuận lãi suất và cũng không thỏa thuận thời hạn phải trả toàn bộ khoản nợ mà chỉ thỏa thuận mỗi tháng ông A có trách nhiệm trả cho bà T 1.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ. Nay bà T yêu cầu trả lãi suất đối với số tiền nợ thì cần áp dụng khoản 4 điều 466 BLDS để giải quyết: "4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác."). Theo đó khoản 2 Điều 468 quy định: "2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ".
Như vậy, thời điểm tính lãi đối với số tiền nợ trên là tại thời điểm trả nợ, tức tính từ ngày bà T yêu cầu trả nợ ngày 10/10/2023 đến ngày xét xử; số tiền gốc để tính tiền lãi suất là 150.000.000 đồng.
2. Vi phạm về tính án phí dân sự sơ thẩm:
Do Tòa án tính số tiền gốc và tiền lãi buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn không đúng nên dẫn đến Tòa án buộc ông A chịu 9.540.000 đồng tiền án phí là sai; Ngoài ra, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 còn quy định: "4. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương
4
ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận". Trường hợp này do chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả tiền gốc, tiền lãi cho nguyên đơn và không chấp nhận một phần yêu cầu về trả nợ lãi của nguyên đơn nên theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 thì bà Hoàng Thị Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với phần yêu cầu tính tiền lãi không được chấp nhận. Tuy nhiên, do bà T là người cao tuổi và bà đã có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên bà được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Như vậy, Tại phần án phí Tòa án phải tuyên: Buộc ông Nguyễn Trí A phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền ông A phải trả cho bà T và căn cứ thêm điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 để tuyên miễn nộp tiền án phí cho bà Hoàng Thị Minh T.
3. Vi phạm trong việc áp dụng Điều luật:
Tòa án áp dụng Điều 26, Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án là còn chung chung, chưa cụ thế trong khi các Điều luật trên có nhiều điểm khoản khác nhau áp dụng cho từng trường hợp khác nhau. Trong vụ án này cần áp dụng cụ thể khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự mới chính xác.
Tòa án không áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 để tuyên miễn nộp tiền án phí cho bà Hoàng Thị Minh T là không đúng quy định.
[3] Về án phí: Do sửa án sơ thẩm về khoản tiền gốc và lãi ông A phải trả cho bà T, nên án phí DSST của ông A cần điều chỉnh cho phù hợp. Miễn án phí DSST cho bà T
Vì các lẽ trên
Căn cứ Khoản 1 Điều 228; Khoản 2 Điều 308, Điều 309; Khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS ngày 21/5/2024, VKSND huyện Thọ Xuân. Sửa bản án sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
2. Căn cứ: Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Khoản 2 Điều 468 Bộ Luật Dân Sự năm 2015; Điểm b Khoản 1 Điều 24; Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thị Minh T. Buộc ông Nguyễn Trí A phải trả cho bà Hoàng Thị Minh T số tiền nợ gốc 150.000.000 đồng và số tiền lãi
5
là: 11.205.000đ. Tổng là: 161.205.000 (Một trăm sáu mốt triệu hai trăm linh năm nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền nợ gốc chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
4. Về án phí: Ông A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 8.060.000 (tám triệu không trăm sáu mươi nghìn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự và điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án.
5. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Dung |
6
Bản án số 84/2024/DS-PT ngày 16/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp hđ vay tài sản
- Số bản án: 84/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐ vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T và ông A tranh chấp HĐ vay tài sản
