Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                       

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 84/2024/DS-ST

Ngày: 26-4-2024

V/v tranh chấp hụi

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đào Việt Khái.

- Bà Đoàn Thị Sim.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Bảo Trân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 546/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị K, sinh năm 1988 (Có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn:

  1. Ông Lê Minh T (Vắng mặt).
  2. Bà Hồ Kim B (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 24 tháng 11 năm 2023 nguyên đơn bà Trần Thị K trình bày: Năm 2021 đến năm 2022, bà Trần Thị K có mở nhiều dây hụi, ông Lê Minh T và bà Hồ Kim B có tham gia 05 dây hụi, tính đến ngày 24/11/2023 ông Lê Minh T và bà Hồ Kim B còn nợ ông 33.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bà K yêu cầu ông T, bà B trả cho bà tiền hụi chết tính đến tháng 4 năm 2024 chưa đóng là 85.000.000 đồng. Cụ thể như sau:

+ Dây thứ nhất: Mở ngày 10 tháng 5 năm 2021 (Âl), dây hụi mệnh giá 1.000.000 đồng, hụi khui mỗi tháng 01 lần, có 35 chưng, ông T, bà B tham gia 03 chưng và đã hốt hụi, sau khi hốt thì ông T, bà B đóng hụi chết cho bà đến hết tháng 7 năm 2023 là 28 lần, từ tháng 8 năm 2023 cho đến ngày khởi kiện chưa đóng hụi là 03 lần, từ ngày khởi kiện đến ngày mãn hụi là tháng 3/2024 là 04 lần, tổng cộng là 07 lần với số tiền là 21.000.000 đồng.

+ Dây hụi thứ hai mở ngày 20 tháng 9 năm 2021 (Âl), dây hụi mệnh giá 1.000.000 đồng, mỗi tháng mở 01 lần, có 36 chưng, ông T, bà B tham gia 02 chưng và đã hốt hụi, bà đã giao hụi đầy đủ cho ông T, bà B. Sau khi hốt hụi thì ông T, bà B đóng hụi chết cho bà đến hết tháng 7 năm 2023 được 24 lần hụi chết, từ tháng 8 năm 2023 đến ngày khởi kiện ông T, bà B còn nợ bà 03 lần; từ ngày khởi kiện đến ngày 26/4/2024 chưa đóng 05 lần. Nay bà yêu cầu ông T, bà B đóng cho bà 08 lần hụi chết với số tiền là 16.000.000 đồng và phải có nghĩa vụ đóng tiếp cho đến khi mãn hụi.

+ Dây hụi thứ ba mở ngày 15 tháng 3 năm 2022 (Âl), dây hụi mệnh giá 1.000.000 đồng, mỗi tháng mở 01 lần, có 42 chưng, ông T, bà B tham gia 01 chưng và đã hốt hụi. Sau khi hốt thì ông T, bà B đóng hụi chết cho bà đên hết tháng 7 năm 2023 được 17 lần hụi chết, từ tháng 8 năm 2023 đến ngày khởi kiện không đóng 03 lần, từ ngày khởi kiện đến ngày 26/4/2024 chưa đóng 05 lần. Nay bà yêu cầu ông T, bà B đóng cho bà 8 lần hụi chết với số tiền là 8.000.000 đồng và phải có nghĩa vụ đóng tiếp cho đến khi mãn hụi.

+ Dây hụi thứ tư mở ngày 05 tháng 8 năm 2022 (Âl), dây hụi mệnh giá 1.000.000 đồng, hụi khui mỗi tháng 01 lần, có 45 chưng, ông T, bà B tham gia 04 chưng và đã hốt hụi, sau khi hốt thì ông T, bà B đóng hụi chết cho bà đến hết tháng 7 năm 2023 được 13 lần hụi chết, từ tháng 8 năm 2023 đến ngày khởi kiện còn nợ bà 03 lần hụi chưa đóng, từ ngày khởi kiện đến ngày 26/4/2024 chưa đóng 5 lần. Như vậy, ông T, bà B chưa đóng hụi chết cho bà từ tháng 8/2023 đến ngày 26/4/2024 là 8 lần bằng 32.000.000 đồng và yêu cầu đóng hụi chết đến ngày mãn hụi.

+ Dây hụi thứ năm mở ngày 26 tháng 12 năm 2022 (Âl), dây hụi mệnh giá 1.000.000 đồng, mỗi tháng mở 01 lần, có 40 chưng, ông T, bà B tham gia 01 chưng và đã hốt hụi, sau khi hốt thì ông T, bà B đóng hụi chết cho bà đến hết tháng 7 năm 2023 được 7 lần hụi chết, từ tháng 8 năm 2023 đến ngày khởi kiện còn nợ bà 03 lần hụi chưa đóng, từ ngày khởi kiện đến ngày 26/4/2024 chưa đóng 5 lần. Như vậy, ông T, bà B chưa đóng hụi chết cho bà từ tháng 8/2023 đến ngày 26/4/2024 là 8 lần bằng 8.000.000 đồng và yêu cầu đóng hụi chết đến ngày mãn hụi.

Tổng số tiền mà ông T, bà B còn nợ bà ở 05 dây hụi trên tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 85.000.000 đồng. Nay bà yêu cầu ông T, bà B có nghĩa vụ liên đới trả cho bà 85.000.000 đồng và tiếp tục đóng hụi cho đến khi mãn các dây hụi trên.

Đối với bị đơn ông Lê Minh T và bà Hồ Kim B đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông T và bà B vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật; Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị K buộc ông Lê Minh T và bà Hồ Kim B trả cho bà K 85.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa bà Trần Thị K với ông Lê Minh T và bà Hồ Kim B là tranh chấp về giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn ông Lê Minh T và bà Hồ Kim B có địa chỉ cư trú tại huyện P, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Lê Minh T và bà Hồ Kim B là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Lê Minh T và bà Hồ Kim B.

[3] Về nội dung: Từ năm 2021 đến năm 2022, bà Trần Thị K làm chủ các dây hụi, ông Lê Minh T và bà Hồ Kim B có tham gia nhiều dây hụi. Tổng số tiền hụi tính đến ngày tháng 26/4/2024 Dương lịch, ông Lê Minh T và bà Hồ Kim B còn nợ 101.000.000 đồng tiền hụi chưa đóng.

[3.1]. Hội đồng xét xử nhận thấy: Để chứng minh yêu cầu của mình, quá trình giải quyết vụ án, bà K có cung cấp cho Tòa 05 danh sách hụi viên và biên nhận nợ hụi ngày 02 tháng 11 năm 2023 âm lịch, bà Hồ Thị B1 ký tên vào biên nhận nợ có ông Nguyễn Thành C là người ký tên làm chứng. Trong biên nhận nợ hụi, bà B1 thừa nhận số tiền bà và ông T phải đóng hụi chết cho bà Trần Thị K đến khi mãn các dây hụi là 231.000.000 đồng, mỗi tháng phải đóng hụi chết là 11.000.000 đồng, các bên thỏa thuận mỗi tháng bà B1, ông T đóng hụi chết cho bà K 5.000.000 đồng. Từ khi làm biên nhận nợ hụi đến nay, ông T, bà B1 không đóng tiền nợ hụi cho bà K như đã cam kết, do đó ông T, bà B1 đã vi phạm thỏa thuận của các bên nên bà K khởi kiện ông T, bà B1 là có căn cứ chấp nhận. Từ những phân tích như đã nêu trên, có đủ căn cứ xác định bà Hồ Kim B và ông Lê Minh T có tham gia các dây hụi do bà K là chủ hụi và còn nợ tiền hụi chết đến ngày 26/4/2024 là 85.000.000 đồng.

[3.2] Đối với bà Hồ Kim B, ông Lê Minh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng bà Hồ Kim B, ông Lê Minh T vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và cũng không có ý kiến gì về việc yêu cầu của bà K, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để phản đối yêu cầu khởi kiện của bà K. Như vậy, yêu cầu của bà Trần Thị K buộc ông T, Bà B trả tiền nợ hụi đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh được quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự “2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

[3.3] Tại điểm c khoản 1 và khoản 2 của Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường quy định về nghĩa vụ của thành viên như sau: “c) Tiếp tục góp các phần họ để các thành viên khác được lĩnh cho đến khi thành viên cuối cùng lĩnh họ trong trường hợp đã lĩnh họ trước thành viên khác;”, ông Lê Minh T, bà Hồ Kim B tham gia chơi hụi của bà Trần Thị K làm chủ và đã hốt hụi đến nay chưa đóng hụi chết cho bà Trần Thị K là vi phạm nghĩa vụ nên việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị K là phù hợp với quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị K buộc vợ chồng ông Lê Minh T và bà Hồ Kim B có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị K số tiền nợ hụi 85.000.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Ý kiến đề nghị của đại viện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau về nội dung vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.

[5] Đối với các phần hụi chưa kết thúc nếu sau này ông T, bà B tiếp tục vi phạm nghĩa vụ góp hụi thì bà Trần Thị K được quyền khởi kiện bằng một vụ án khác cho đến khi kết thúc toàn bộ các dây hụi do ông Lê Minh T và bà Hồ Kim B tham gia.

[6] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị K nên bà K không phải chịu án phí. Ông Lê Minh T và bà Hồ Kim B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kiều . Buộc ông Lê Minh T và bà Hồ Kim B có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị K số tiền là 85.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí:
  • - Bà Trần Thị K không phải chịu án phí. Bà Trần Thị K đã nộp tiền tạm ứng án phí 1.100.000 đồng tại biên lai số 0003056, ngày 24/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  • - Buộc ông Lê Minh T và bà Hồ Kim B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 4.250.000 đồng nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau;
  • - Chi cục Thi hành án huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Văn Bình

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 84/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger