Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

Bản án số: 84/2024/DS-ST

Ngày: 24/9/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bàng
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Du
  • Ông Trần Đức Hiếu
  • - Thư ký phiên toà: Ông Phạm Nguyên Khang - Thư ký, Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy – kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 194/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2024/QĐXXST-DS ngày 28/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 163a/2024/QĐHPT-DS ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Quốc D, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khối phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Quảng Nam. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Trần Thanh S, sinh năm: 1995. Địa chỉ: Thôn V, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam (theo giấy ủy quyền được Văn phòng công chứng Đặng Duy H ký chứng thực ngày 03/7/2924). Bà S có mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1984; Địa chỉ: E N, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/6/2024, bản tự khai đề ngày 08/8/2024 và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Lê Trần Thanh S trình bày:

Ngày 18/01/2019, ông Đỗ Quốc D và bà Nguyễn Thị Kim P cùng thỏa thuận ký giấy vay tiền với nội dung “Chị P mượn D 200.000.000 đồng”. Tuy nhiên, đến hạn thanh toán, bà P nhiều lần khất nợ và không thanh toán nợ cho ông D. Sau đó, bà P rủ ông D đầu tư mua lô đất tại Khu N, quận N mà bà P đã mua trước đó với giá 3.750.000.000 đồng, theo đó ông D góp thêm cho bà P 200.000.000 đồng, cộng với khoản nợ 200.000.000 đồng trước đó thành 400.000.000 đồng và nói để lại lô đất nói trên với giá đầu tư là 3.500.000.000 đồng; ngày 29/3/2019 bà P ký giấy xác nhận đã nhận của ông D số tiền 400.000.000 đồng. Đến tháng 8/2019 bà P bán lô đất tại Khu N, quận N nói trên với giá 3.250.000.000 đồng, ghi nhận lỗ 250.000.000 đồng, bà P yêu cầu ông D chịu một phần lỗ là 45.000.000 đồng và bà P hoàn trả cho ông D 155.000.000 đồng, nợ lại 200.000.000 đồng tiền mượn nhưng ông D không đồng ý mà yêu cầu bà P trả toàn bộ só tiền ông D đã đưa cho bà P là 400.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến 19/8/2019 bà P chuyển trả cho ông D số tiền 155.000.000 đồng, còn nợ lại 200.000.000 đồng tiền mượn.

Sau nhiều lần thanh toán nợ, ngày 22/6/2023 bà P ký giấy cam kết: số tiền còn nợ lại là 150.000.000 đồng và cam kết mỗi tháng trả 2.000.000 đồng. Sau 6 tháng bà P sẽ hoàn trả đầy đủ số tiền 138.000.000 đồng còn lại cho ông D (tức là đến 23/12/2023 bà P phải hoàn trả đầy đủ tổng số tiền 150.000.000 đồng cho ông D).

Sau khi viết giấy cam kết, từ ngày 22/6/2023 đến ngày 01/02/2024 bà P chuyển khoản trả được cho ông D tổng số tiền 16.000.000 đồng. Như vậy, bà P còn nợ lại ông D 134.000.000 đồng.

Từ lần trả tiền cuối cùng vào ngày 01/02/2024 đến nay bà P không trả nợ cho ông D, mặc dù ông D đã nhiều lần yêu cầu bà P trả nợ nhưng bà P luôn tìm cách trốn tránh và không gặp ông D, không có thiện chí trả nợ. Vì vậy, ông D khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Kim P phải trả cho ông D số tiền gốc còn nợ là 134.000.000 đồng.

Về tiền lãi chậm trả tính theo mức lãi suất 10%/năm, tính từ ngày hết thời gian bà P cam kết mà không trả hết khoản nợ cho ông D. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ 23/12/2023 đến ngày xét xử là 24/9/2024 là 276 ngày, tương đương số tiền lãi là 134.000.000 đ x 10% : 365 x 276 ngày = 10.132.602 đồng. Tổng cộng tiền lãi và tiền gốc ông D yêu cầu bà P thanh toán là 144.132.602 đồng.

* Tại đơn yêu cầu ghi ngày 09/8/2024 bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim P trình bày: Bà P cho rằng bà không có hợp đồng vay vốn với ông Đỗ Quốc D. Các nội dung khác bà P trình bày về việc bà bị khống chế, uy hiếp, tống tiền và bà P trình báo cơ quan Công an phường T, Công an phường V. Ông D uy hiếp, ép buộc bà ký giấy mỗi tháng trả lãi nóng 2.000.000 đồng. Nay ông D khởi kiện yêu cầu bà trả số tiền vay thì bà không có vay ông D.

Kể từ khi Tòa án yêu cầu bị đơn Nguyễn Thị Kim P cung cấp tài liệu chứng cứ thì bà P không cung cấp tài liệu chứng cứ và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án và triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn, đại diện nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Với chứng cứ do nguyên đơn xuất trình, cũng như lời khai trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Quốc D và buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Kim P phải có trách nhiệm trả nợ cho ông Đỗ Quốc D số tiền đã mượn còn nợ tiền gốc là 134.000.000đ và tiền lãi là có căn cứ. Vì vậy đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” của nguyên đơn ông Đỗ Quốc D đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Kim P. Buộc bà Nguyễn Thị Kim P phải trả cho ông Đỗ Quốc D số tiền đã mượn còn nợ là 134.000.000 đồng một lần và tiền lãi tính từ 23/12/2024 đến ngày xét xử 24/9/2024. Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn ông Đỗ Quốc D khởi kiện bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim P để yêu cầu bà P trả số tiền mượn còn nợ theo giấy mượn tiền. Đây là quan hệ hợp đồng vay tài sản theo quy định tại điều 116, Điều 463 Bộ luật dân sự. Bị đơn có địa chỉ nơi cư trú trên địa bàn quận C, thành phố Đà Nẵng. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 463 Bộ luật dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ theo quy định.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã nộp cho Tòa án đơn yêu cầu thể hiện nội dung bị đơn trình bày, đơn vắng mặt không tham gia phiên hòa giải. Tuy nhiên, Tòa án đã triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai và bị đơn đã nộp đơn xin xét xử vắng mặt, thể hiện bị đơn đã từ bỏ quyền và không chấp hành nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền gốc còn nợ là 134.000.000 đồng:

Ngày 18/01/2019, ông Đỗ Quốc D và bà Nguyễn Thị Kim P cùng thỏa thuận ký giấy mượn tiền với nội dung “Chị P mượn D 200.000.000 đồng”. Đến ngày 29/3/2019 bà P viết giấy có nhận của Đỗ Quốc D số tiền 400.000.000 đồng để chung mua lô đất thửa số 32, Khu N, quận N với giá 3.500.000.000 đồng. Trong quá trình mượn tiền và nhận tiền chung mua lô đất, hai bên đã xác nhận cấn trừ tiền mua lô đất bị thua lỗ, ông D phải chịu lỗ 45.000.000 đồng như lời yêu cầu chia lỗ của bà P. Bà P đề nghị trả cho ông D số tiền 155.000.000 đồng và nợ lại 200.000.000 đồng đã mượn trước đó. Mặc dù ông D không đồng ý nhưng đến ngày 19/8/2019 bà P chuyển trả cho ông D số tiền 155.000.000 đồng như đã hẹn.

Đối với số tiền mượn 200.000.000 đồng chưa trả, sau nhiều lần thanh toán nợ, ngày 22/6/2023 bà P ký giấy cam kết: “số tiền ban đầu là 150.000.000 đồng và cam kết mỗi tháng trả 2.000.000 đồng. Sau 6 tháng bà P sẽ hoàn trả đầy đủ số tiền 138.000.000 đồng còn lại cho ông D”. Thực hiện giấy cam kết, từ ngày 22/6/2023 đến ngày 01/02/2024 bà P đã trả được cho ông D tổng số tiền 16.000.000 đồng. Như vậy, việc bà P viết giấy cam kết nợ số tiền ban đầu 150.000.000 đồng và cam kết trả mỗi tháng 2.000.000 đồng, sau 6 tháng sẽ trả hết số tiền 138.000.000 đồng còn nợ là việc bà P thừa nhận nợ ông D số tiền 150.000.000 đồng; sau đó bà P đã chuyển trả ông D nhiều lần được 16.000.000 đồng. Do đó, ông D khởi kiện yêu cầu bà P trả số tiền nợ gốc còn lại 134.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Thị Kim P có đơn yêu cầu trình bày có nội dung: Bà P cho rằng bà không có hợp đồng vay vốn với ông Đỗ Quốc D. Các nội dung khác bà P trình bày về việc bà bị khống chế, uy hiếp, tống tiền và bà P trình báo cơ quan Công an phường T, quận H. Ông D uy hiếp, ép buộc bà ký giấy mỗi tháng trả lãi nóng 2.000.000 đồng và bà P trình báo Công an phường V, quận T. Nay ông D khởi kiện yêu cầu bà trả số tiền vay thì bà không có vay ông D. Tòa án đã tiến hành xác minh tại Công an phường V, quận T, kết quả xác minh thể hiện: Ngày 13/6/2024, bà P và ông Đỗ Quốc D có đến Công an phường V để giải quyết liên quan đến đơn tố cáo của bà P. Tuy nhiên, Công an phường V chỉ giải quyết về vấn đề an ninh trật tự và hai bên cam kết hòa giải, không vi phạm pháp luật. Hai bên không có yêu cầu về bồi thường thiệt hại. Công an phường đã hướng dẫn hai bên chấp hành quy định của pháp luật, các vấn đề về vay mượn thì Công an không giải quyết, hướng dẫn các bên trình báo đến cơ quan chức năng có thẩm quyền để giải quyết.

Đối với các nội dung trình bày của bị đơn Nguyễn Thị Kim P, Tòa án đã có thông báo số 194/TB-TA ngày 19/8/2024 yêu cầu bị đơn cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho các nội dung bị đơn trình bày về việc bà bị khống chế, uy hiếp, ép buộc viết giấy cam kết nhận nợ và trả lãi nóng 2.000.000 đồng mỗi tháng; tài liệu chứng cứ đã giải quyết của cơ quan Công an mà bà cho rằng đã giải quyết xong nên ông D mới đăng facebook gỡ các thông tin cho là hiểu nhầm. Tuy nhiên, trong quá trình Tòa án hòa giải cho đến phiên tòa hôm nay, bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ về việc bà đã giải quyết xong vấn đề nợ tiền vay mượn với ông Đỗ Quốc D, và việc bà viết giấy cam kết trả tiền là do bị ép buộc, khống chế.

Mặt khác, kết quả sao kê tài khoản chuyển khoản và thừa nhận của nguyên đơn thể hiện từ sau khi viết giấy cam kết, bà P đã có chuyển khoản tiền trả nợ cho ông D mỗi tháng 2.000.000 đồng đúng như giấy cam kết. Nếu bà P cho rằng bà không nợ ông D thì tại sao bà lại chuyển tiền trả nợ cho ông D.

Trong quá trình Tòa án giải quyết và thu thập tài liệu chứng cứ, Công an phường T không xác nhận việc bà P có đến Công an phường T để yêu cầu giải quyết; kết quả xác minh tại Công an phường V thể hiện Công an giải quyết về vấn đề an ninh trật tự, không giải quyết vấn đề tiền vay mượn giữa ông D và bà P (hồ sơ Công an cung cấp kèm theo)

Từ những nhận định trên, thể hiện bà P có vay mượn tiền của ông Đỗ Quốc D và hiện còn nợ số tiền gốc 134.000.000 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả khoản tiền gốc vay mượn còn nợ 134.000.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tính lãi đối với khoản tiền vay mượn chưa trả.

Theo giấy cam kết trả nợ do bị đơn viết ngày 22/6/2023 thể hiện bà P còn nợ số tiền là 150.000.000 đồng và cam kết mỗi tháng trả 2.000.000 đồng. Sau 6 tháng bà P sẽ hoàn trả đầy đủ số tiền 138.000.000 đồng còn lại cho ông D (tức là đến 23/12/2023 bà P phải hoàn trả đầy đủ tổng số tiền 150.000.000 đồng cho ông D). Nguyên đơn đã có yêu cầu đòi tiền nhiều lần nhưng bị đơn cố tình trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ trả tiền, không có thiện chí trả nợ. Do bị đơn vi phạm chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền nên nguyên đơn yêu cầu thanh toán tiền lãi chậm trả đối với khoản tiền chưa trả là đúng quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự. Các bên không thỏa thuận được mức lãi suất nên áp dụng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, do đó yêu cầu về mức lãi suất của nguyên đơn 10%/ năm là phù hợp quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi chậm trả kể từ ngày hết thời gian bà P cam kết mà không trả hết khoản nợ cho ông D, yêu cầu tính lãi từ 23/12/2023 đến ngày xét xử là 24/9/2024 là 276 ngày, tương đương số tiền lãi là 134.000.000 đ x 10% /365 x 276 ngày = 10.132.602 đồng. Vậy tiền lãi nguyên đơn yêu cầu 10.132.602.000 đồng là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị đơn phải trả khoản tiền lãi theo yêu cầu cho nguyên đơn.

Từ những phân tích nêu trên, HĐXX xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Nguyễn Thị Kim P phải trả cho ông Đỗ Quốc D một lần tổng số tiền là 144.132.602 đồng. (trong đó tiền gốc 134.000.000 đồng và số tiền lãi là 10.132.602 đồng).

[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở phù hợp với nhận định trên của HĐXX nên được chấp nhận.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 144.132.602 đồng x 5% = 7.206.630 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 227, 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 280, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Quốc D đối với bà Nguyễn Thị Kim P về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

Buộc bà Nguyễn Thị Kim P phải thanh toán cho ông Đỗ Quốc D một lần số tiền 144.132.602 đồng (một trăm bốn mươi bốn triệu, một trăm ba mươi hai ngàn, sáu trăm lẻ hai đồng)

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Đỗ Quốc D có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền bà Nguyễn Thị Kim P phải thanh toán, nếu bà Nguyễn Thị Kim P không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì hàng tháng phải chịu thêm khoản lãi tương ứng với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim P phải chịu số tiền án phí: 7.206.630 đồng.

Hoàn trả cho ông Đỗ Quốc D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.350.000 đồng (ba triệu, ba trăm năm mươi ngàn đồng) tại biên lai thu số 0001724 ngày 15/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, Tp Đà Nẵng.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Bàng

6

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 84/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông Duy- bà Phượng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger