Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

________________

Bản án số: 84/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 25-6-2021

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Lê Thị Minh Khánh
  • 2. Ông Trần Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 25 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2021/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2021 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/5/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 56/2021/QĐ-ST ngày 26/5/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Vũ Thị H, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

2. Bị đơn: Anh Vũ Trí Đ, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động tại nước ngoài không có địa chỉ).

Địa chỉ cuối cùng của Vũ Trí Đ tại Việt Nam: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 11/3/2021, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:

Chị và anh Vũ Trí Đ có đăng ký kết hôn vào ngày 04/6/2019 tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Do anh chị lấy nhau qua sự giới thiệu của người quen và do sự chênh lệch về tuổi tác quá lớn, anh Đ hơn chị 11 tuổi nên không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không hiểu nhau cho nên sống không có tình cảm không có hạnh phúc, vợ chồng sống cùng bố mẹ chồng do khác nhau về lối sống giữa các thế hệ nên chị và bố mẹ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Đến ngày 28/8/2020 thì anh Đ đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, chị vẫn tiếp tục sống chung cùng với bố mẹ chồng một thời gian thì mâu thuẫn giữa chị và bố mẹ chồng lại tiếp tục xảy ra nên chị xin phép về nhà bố mẹ để sinh sống. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ đó đến nay, thỉnh thoảng anh Đ có gọi điện về nhưng chỉ để hỏi thăm con, cả hai vợ chồng đều nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Trí Đ.

Về con chung: Chị và anh Đ có 01 con chung là cháu Vũ Đức N, sinh ngày 23/4/2020. Ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công nợ: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Vũ Thị H là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Vũ Thị H. Đối với bị đơn anh Vũ Trí Đ vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với bố đẻ của anh Đ là ông Vũ Trí H để giao thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu ông H thông báo cho anh Đ biết... Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo... Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn anh Vũ Trí Đ.

[2]. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Vũ Thị H là nguyên đơn có đơn xin ly hôn anh Vũ Trí Đ, anh Đ hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ... Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về quan hệ Hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Vũ Trí Đ kết hôn ngày 04/6/2019 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H. Xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Vũ Trí Đ.

[4]. Về nuôi con chung: Chị Vũ Thị H và anh Vũ Trí Đ có 01 con chung là cháu Vũ Đức N, sinh ngày 23/4/2020. Hiện nay cháu N đang ở cùng với chị, ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu N dưới 36 tháng tuổi, việc giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp điều kiện thực tế và đảm bảo quyền lợi cho con chung.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 và khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Vũ Thị H được ly hôn với anh Vũ Trí Đ.
  2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Vũ Thị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Vũ Đức N, sinh ngày 23/4/2020 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Anh Vũ Trí Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Đ thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2018/0000918 ngày 31/3/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Vũ Thị H đã nộp đủ.
  4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Vũ Thị H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định. Anh Vũ Trí Đ hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Bắc Giang;

- Cục THADS tỉnh Bắc Giang;

- UBND xã T, huyện Y;

- Cổng thông tin điện tử TAND Tối cao;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)




Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2021/HNGĐ-ST ngày 25/06/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 84/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung giữa chị H và anh Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger