|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN ________________ Bản án số: 84/2021/HNGĐ-ST Ngày 29-7-2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thiện
- Bà Lê Hoàng Mỹ Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thảo Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Tốt - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 98/2021/TLST - HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2021/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1986; Thường trú: Số nhà M, đường số M, tổ B, thôn S, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh C, sinh năm 1988; Thường trú: Số nhà M, đường số M, tổ B, thôn S, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Chị S có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh C vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 22/3/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Minh C tìm hiểu nhau trong thời gian khoảng 02 năm thì tổ chức lễ cưới năm 2010, đến năm 2011 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 55/2011, quyển số 01/2011 ngày 03/6/2011.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh đến giữa năm 2017 thì về sinh sống tại nhà, địa chỉ số M, đường số M, tổ B, thôn S, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mẫu thuẫn là do anh C cờ bạc, rượu chè không quan tâm chăm sóc gia đình, anh C làm lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không phụ giúp chị S lo cho con. Chị S đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh vẫn không thay đổi. Từ năm 2020 cho đến nay, vợ chồng sống chung nhà nhưng ly thân nhau, không còn thương yêu nhau. Nay chị Nguyễn Thị S xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy, chị S yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Minh C.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Minh I, sinh ngày 25/9/2010. Hiện nay con đang sống cùng với vợ chồng anh chị. Tại đơn khởi kiện, chị S yêu cầu khi ly hôn, chị được nuôi con và yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, tại bản tự khai ngày 12/4/2021 và tại buổi làm việc về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chị S không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, chị đang làm tổ trưởng chuyền 6 tại Công ty cổ phần may N đóng tại địa bàn huyện Đ, thu nhập 6.500.000 đồng/tháng, đủ điều kiện để chăm sóc và lo cho con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Minh C đã được Toà án thông báo tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh C không đến Toà án làm việc, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ngày 21/5/2021, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống giữa chị Nguyễn Thị S, anh Nguyễn Minh C tại địa phương và được cung cấp: Chị S và anh C là vợ chồng, đang sinh sống tại nhà riêng có địa chỉ tổ B, thôn S, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Theo thông tin từ Chi hội trưởng phụ nữ thôn S, vợ chồng anh chị có mâu thuẫn từ việc anh C cầm cố chiếc xe máy của anh C dẫn đến vợ chồng cãi nhau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 22/7/2021 và ngày 29/7/2021 nhưng bị đơn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Minh C tìm hiểu nhau trong thời gian khoảng 02 năm thì tổ chức lễ cưới năm 2010, đến năm 2011 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 55/2011, quyển số 01/2011 ngày 03/6/2011 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
[3] Trong quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị S cho rằng do anh C cờ bạc, rượu chè không quan tâm chăm sóc gia đình, anh C làm lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không phụ giúp chị S chăm lo cho con. Chị S đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh vẫn không thay đổi. Từ năm 2020 cho đến nay, vợ chồng sống chung nhà nhưng ly thân nhau, không còn thương yêu nhau. Nay chị Nguyễn Thị S xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy, chị S yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Minh C.
Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Việc anh Nguyễn Minh C bỏ mặc không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân, cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị S và anh C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu được ly hôn của chị Nguyễn Thị S.
[4] Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Minh I, sinh ngày 25/9/2010. Xét thấy, khi giải quyết ly hôn, việc giao con cho cha hay mẹ nuôi thì phải đảm bảo được sự phát triển toàn diện về mọi mặt cho đứa trẻ. Chị S có công việc, thời gian làm việc và thu nhập ổn định, đồng thời theo nguyện vọng của cháu Nguyễn Minh I muốn được sống cùng với mẹ. Có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị S về việc được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 238, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị S đối với anh Nguyễn Minh C về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị S được ly hôn với anh Nguyễn Minh C.
- Về con chung: Anh Nguyễn Minh C có trách nhiệm giao con chung tên Nguyễn Minh I, sinh ngày 25/9/2010 cho chị Nguyễn Thị S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị S không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Đức Linh; - Chi cục THADS huyện Đức Linh; - UBND thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; - Đương sự; - Lưu: VT, HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Thị Mỹ Dung |
Bản án số 84/2021/HNGĐ-ST ngày 29/07/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 84/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị S được ly hôn với anh Nguyễn Minh C. - Về con chung: Anh Nguyễn Minh C có trách nhiệm giao con chung tên Nguyễn Minh I, sinh ngày 25/9/2010 cho chị Nguyễn Thị S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
