Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/6/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Hoàng Diễm.
  2. Ông Nguyễn Thanh Vân.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phạm Thị Mai Đình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Linh Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 703/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐST-HN ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bé N, sinh năm: 1992.
  • Địa chỉ: Số D, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • * Bị đơn: Anh Lê Nguyên N1, sinh năm: 1987.
  • Địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.
  • Chị N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh N1 vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản làm việc trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị Bé N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh N1 tự nguyện kết hôn vào năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 29/8/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Hai bên gia đình nhiều lần tổ chức hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị và anh N1 nhưng không có kết quả. Chị N và anh N1 đã sống ly hôn từ tháng 5 năm 2023 đến nay.

Nay, chị N xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh N1 nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N1. Chị N không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Nguyên Gia B, sinh ngày 22/4/2012. Khi ly hôn chị N yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Nguyên N1 mặc dù đã được Tòa án tổng đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh N1 đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của anh N1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, các Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật.

Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71; bị đơn thực hiện chưa đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Trần Thị Bé N được ly hôn với anh Lê Nguyên N1.

Về con chung: Chị N và anh N1 có 01 con chung là Lê Nguyên Gia B, sinh ngày 22/4/2012 hiện đang sống cùng với chị N và cháu B có nguyện vọng sống cùng với mẹ, do đó đề nghị giao con cho chị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa chị Trần Thị Bé N và anh Lê Nguyên N1 là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh N1 hiện có nơi cư trú tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre, nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh N1 vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N1 là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Chị N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N là phù hợp là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[2] Về hôn nhân: Chị N và anh N1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 29/8/2011 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị N xác định giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp, thường xuyên cãi vả nên cả hai đã sống ly thân từ tháng 5/2023 đến nay. Kết quả xác minh của Tòa án phù hợp với lời trình bày của chị N và phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã nhiều lần mở phiên hòa giải để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị N và anh N1 nhưng anh N1 vắng mặt không tham gia hòa giải, điều đó cho thấy anh N1 không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng nay chị N và anh N1 đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, việc hàn gắn không đạt được kết quả, chị N xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh N1 và kiên quyết ly hôn, từ đó có cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh N1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N1. Ghi nhận chị N không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

[3] Về con chung: Chị N và anh N1 có 01 con chung là Lê Nguyên Gia B, sinh ngày 22/4/2012. Xét thấy chị N là người đang trực tiếp nuôi cháu B. Tại biên bản hỏi ý kiến con từ đủ 07 tuổi trở lên trong vụ án hôn nhân và gia đình thể hiện cháu B có nguyện vọng sống cùng với mẹ. Hội đồng xét xử nhận thấy giao cháu B cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là đảm bảo quyền và lợi ích về mọi mặt của cháu, tránh làm xáo trộn môi trường sống hiện tại của cháu cũng như phù hợp với nguyện vọng của cháu. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cháu B cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

[5] Về nợ chung: Chị N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

[6] Về án phí: Chị N là người khởi kiện yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).

[7] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Bé N được ly hôn với anh Lê Nguyên N1. Ghi nhận chị N không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
  2. Về con chung: Chị Trần Thị Bé N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Nguyên Gia B, sinh ngày 22/4/2012. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con.

    Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

    Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Chị N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
  4. Về nợ chung: Chị N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
  5. Về án phí: Chị Trần Thị Bé N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001748 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Chị N đã nộp xong án phí.
  6. Chị N, anh N1 vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - UBND xã An Hiệp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Phan Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger