|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 839/2024/DS-ST Ngày: 30-9-2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Văn Tốt
- Bà Lâm Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 362/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1409/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1617/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam);
Địa chỉ: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Jin S – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.
Đại diện theo ủy quyền: Công ty L.
Người được ủy quyền: Bà Lâm Thị Thùy D, sinh năm 2000;
Địa chỉ: P, Tầng D, Tòa nhà số G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền ngày 02/01/2024).
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Bành Tô T, sinh năm 1979;
Địa chỉ: 2 Đ, khu phố G (nay là Khu phố D), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/02/2024, bản tự khai, cùng các lời khai trong hồ sơ vụ án, đại diện nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) trình bày:
Ngày 06/7/2022, Công ty T1 (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty T1) ký Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 3352434 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho ông Bành Tô T với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng, lãi suất 44%/năm. Trong đó:
- Số tiền 30.000.000 đồng được giải ngân qua số tài khoản 0110597347 mang tên Bành Tô T mở tại Ngân hàng TMCP Đ;
- Và số tiền bảo hiểm: 1.980.000 đồng.
Sau khi ký kết, Công ty T1 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Bành Tô T. Theo Hợp đồng tín dụng, ông Bành Tô T có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 1.616.080 đồng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 10/8/2022 đến ngày 10/7/2025.
Sau khi được giải ngân ông Bành Tô T đã thanh toán 14.653.000 đồng (9 kỳ). Trong đó: Tiền gốc đã trả: 4.449.776 đồng; tiền lãi đã trả: 10.095.224 đồng; tiền phí đã trả: 108.000 đồng. Tuy nhiên, từ ngày 11/04/2023, ông Bành Tô T đã không thanh toán theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân.
Công ty T1 đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị ông Bành Tô T thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T1 cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho ông Bành Tô T biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, ông Bành Tô T vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T1.
Do đã gửi thông báo nhắc nợ nhưng ông Bành Tô T vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng cho phía Công ty. Nên Công ty đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên buộc ông Bành Tô T thanh toán cho Công ty tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 48.165.501 đồng. Trong đó:
- Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 27.530.224 đồng.
- Số tiền lãi phát sinh trong hạn: 13.558.523 đồng.
- Số tiền lãi quá hạn: 5.994.736 đồng.
- Số tiền lãi chậm trả: 1.082.018 đồng.
Diễn giải công thức tính lãi:
- Số tiền lãi trong hạn = Tổng số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ (tính đến thời điểm tính lãi).
- Số tiền lãi quá hạn (Quy định tại khoản 8.3 Điều 8 của HĐTD):
- + Số tiền lãi quá hạn từng kỳ = 150% x Lãi suất x Số tiền gốc chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày.
- + Số tiền lãi quá hạn = Tổng số tiền lãi quá hạn từng kỳ (tính đến thời điểm tính lãi).
- Số tiền lãi chậm trả (Quy định tại khoản 8.3 Điều 8 của HĐTD):
- + Số tiền lãi chậm trả từng kỳ = 10% x Số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày.
- + Số tiền lãi chậm trả = Tổng số tiền lãi chậm trả từng kỳ (tính đến thời điểm tính lãi).
Cách tính lãi trên được căn cứ tại khoản 8.3 Điều 8 Hợp đồng tín dụng; Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, và Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Ngoài ra Công ty còn yêu cầu Tòa án buộc ông Bành Tô T phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bị đơn liên tục vắng mặt và Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu ông Bành Tô T phải trả tiền nợ theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 3352434 ngày 06/7/2022. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 06/7/2022, ông Bành Tô T có ký Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3352434 về việc cấp tín dụng với Công ty T1 (Việt Nam), có cung cấp cho Công ty T1 (Việt Nam) giấy tờ nhân thân thể hiện nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 2 Đ, khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong đơn khởi kiện nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của ông Bành Tô T tại địa chỉ 2 Đ, khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo kết quả xác minh của Công an phường T, Quận A thì: Ông Bành Tô T, sinh năm 1979 có hộ khẩu thường trú tại 2 Đ, khu phố G (nay là Khu phố D), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không cư ngụ tại địa chỉ trên từ khoảng năm 2023 đến nay. Hiện tại đi đâu không rõ.
Như vậy, ông Bành Tô T thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú, trốn tránh nghĩa vụ đối với Công ty T1 (Việt Nam) do đó Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Xét về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Về hợp đồng tín dụng:
Căn cứ vào Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3352434 ngày 06/7/2022 thể hiện ông Bành Tô T có vay của Công ty T1 (Việt Nam) số tiền 31.980.000 đồng trong đó khoản vay là 30.000.000 đồng, bảo hiểm là 1.980.000 đồng, mục đích vay: mua hàng; sản phẩm vay: UCCC NEW NORMAL L326-MT; thời hạn vay: 36 tháng; ngày đề nghị thanh toán: 10 hàng tháng. Sau khi ký hợp đồng, ngày 07/7/2022, Công ty T1 (Việt Nam) giải ngân qua số tài khoản 0110597347 mang tên Bành Tô T mở tại Ngân hàng TMCP Đ số tiền 30.000.000 đồng.
Nguyên đơn và ông T giao kết hợp đồng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Căn cứ theo quy định tại các Điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng thì hợp đồng tín dụng nêu trên là hợp pháp, phù hợp về hình thức và nội dung, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên theo nội dung các bên thỏa thuận.
Bị đơn ông Bành Tô T được Thừa phát lại niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, niêm yết Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn không đến tòa để trình bày, cung cấp chứng cứ. Do đó, việc ông T không đến tòa tức tự khước từ quyền được trình bày những lý lẽ, khước từ quyền được tiếp cận công khai chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không thực hiện nghĩa vụ giao nộp tài liệu chứng cứ (nếu có) để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chỉ xem xét và mặc nhiên công nhận lời khai và các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình.
[3.2] Về số tiền nợ của hợp đồng tín dụng:
Sau khi được giải ngân ông Bành Tô T đã thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) 9 kỳ vào các ngày 09/8/2022; 09/9/2022; 09/10/2022; 07/11/2022; 09/12/2022; 09/01/2023; 09/02/2023; 08/3/2023; 10/4/2023 với số tiền mỗi kỳ là: 1.628.000 đồng.
Trong đó: Tiền gốc đã trả: 4.449.776 đồng; tiền lãi đã trả: 10.095.224 đồng; tiền phí đã trả: 108.000 đồng. Tuy nhiên, từ ngày 11/04/2023, ông Bành Tô T đã không thanh toán theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 (Việt Nam) đã giải ngân.
Tính đến ngày 30/9/2024,ông T còn nợ Công ty T1 (Việt Nam) số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là: 27.530.224 đồng; số tiền lãi phát sinh trong hạn: 13.558.523 đồng; số tiền lãi quá hạn là: 5.994.736 đồng; số tiền lãi chậm trả là: 1.082.018 đồng. Tổng cộng là 48.165.501 đồng.
Ngoài ra Công ty T1 (Việt Nam) còn yêu cầu Tòa án buộc ông Bành Tô T phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.
Xét thấy: Công ty T1 (Việt Nam) áp dụng mức lãi suất theo quy định tại khoản 8.3 Điều 8 Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3352434 ngày 06/7/2022:
- Số tiền lãi trong hạn = Tổng số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ (tính đến thời điểm tính lãi).
- Số tiền lãi quá hạn (Quy định tại khoản 8.3 Điều 8 của HĐTD):
- + Số tiền lãi quá hạn từng kỳ = 150% x Lãi suất x Số tiền gốc chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày.
- + Số tiền lãi quá hạn = Tổng số tiền lãi quá hạn từng kỳ (tính đến thời điểm tính lãi).
- Số tiền lãi chậm trả (Quy định tại khoản 8.3 Điều 8 của HĐTD):
- + Số tiền lãi chậm trả từng kỳ = 10% x Số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày.
- + Số tiền lãi chậm trả = Tổng số tiền lãi chậm trả từng kỳ (tính đến thời điểm tính lãi).
Căn cứ theo Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng: “4. Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau:
- Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả;
- Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;
- Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn”.
“Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về việc thu các khoản phí liên quan đến hoạt động cho vay, gồm: ... 5. Các loại phí khác liên quan đến hoạt động cho vay được quy định cụ thể tại văn bản quy phạm pháp luật liên quan”.
Công ty T1 (Việt Nam) áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn 44%/năm (tương đương 150% lãi suất cho vay) là phù hợp nên việc Công ty T1 (Việt Nam) yêu cầu ông T thanh toán các khoản tiền lãi trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Công ty T1 (Việt Nam) yêu cầu ông Bành Tô T phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đề nghị Hội đồng xét xử chấp thuận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí là 911.906 (chín trăm mười một nghìn chín trăm lẻ sáu) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022339 ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn ông Bành Tô T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.408.275 đồng (hai triệu bốn trăm lẻ tám nghìn hai trăm bảy mươi lăm) đồng. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, 35,39, 144, 147, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam).
Buộc ông Bành Tô T phải thanh toán một lần cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền còn nợ tính đến ngày 30/9/2024 là: 48.165.501 (bốn mươi tám triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm lẻ một) đồng, trong đó: số tiền dư nợ gốc là: 27.530.224 (hai mươi bảy triệu năm trăm ba mươi nghìn hai trăm hai mươi bốn) đồng; số tiền lãi phát sinh trong hạn là: 13.558.523 (mười ba triệu năm trăm năm mươi tám nghìn năm trăm hai mươi ba) đồng; số tiền lãi quá hạn là: 5.994.736 (năm triệu chín trăm chín mươi bốn nghìn bảy trăm ba mươi sáu) đồng; số tiền lãi chậm trả là: 1.082.018 (một triệu không trăm tám mươi hai nghìn không trăm mười tám) đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Việc giao nhận tiền do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Bành Tô T còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Bành Tô T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.408.275 đồng (hai triệu bốn trăm lẻ tám nghìn hai trăm bảy mươi lăm) đồng. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí là 911.906 (chín trăm mười một nghìn chín trăm lẻ sáu) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022339 ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Ngân |
Bản án số 839/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 839/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
