Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 837/2024/HS-PT

Ngày 16 tháng 9 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Hoàng Minh Thịnh
Các Thẩm phán:Bà Bùi Thị Thu
Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai tại điểm cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước vụ án hình sự thụ lý số 448/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do kháng cáo của bị cáo và đại diện bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1982 tại Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; chỗ ở: Khu phố E, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1957 và bà Viên Thị L, sinh năm 1957; Bị cáo có vợ Lục Thị Cẩm L1, sinh năm 1992 và có 02 người con lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền sự: Không;

Tiền án: Trong giai đoạn từ năm 2013 đến tháng 8 năm 2014, bị cáo Nguyễn Văn T nhiều lần thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” trên địa bàn các huyện N, T, thị xã L và thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ngày 17/8/2014 Nguyễn Văn T bị bắt và bị xử lý như sau:

  • Ngày 28/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 70/2015/HSST.
  • Ngày 26/6/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 51/2015/HSST. Tổng hợp hình phạt 20 tháng tù tại bản án số 70/2015/HSST ngày 28/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, buộc bị cáo phải chấp hình phạt chung của 02 bản án là 03 năm 02 tháng tù.
  • Ngày 16/9/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với Bản án số 51/2015/HSST của Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh. Tại bản án số 223/2015/HSPT, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm 03 năm 02 tháng tù.
  • Ngày 14/8/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm h, p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 141/2015/HSST.
  • Ngày 10/9/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 530/2015/HSST.

Tại quyết định số 01/QĐ-CA ngày 12/01/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai Quyết định: Tổng hợp hình phạt 03 năm 02 tháng tù tại bản án số 223/2015/HSPT ngày 16/9/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; hình phạt 01 năm 03 tháng tù tại bản án số 141/2015/HSST ngày 14/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom; hình phạt 10 tháng tù tại bản án số 530/2015/HSST ngày 10/9/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm 03 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/11/2018, chưa đóng án phí và thi hành phần trách nhiệm dân sự của các bản án nói trên.

Nhân thân: Ngày 29/8/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 48/2007/HSST. Bị can đã chấp hành xong bản án và đã xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2020 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Luật sư Phạm Thị M và luật sư Đào Thị N, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt.

- Bị hại: Phan Văn H (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phan Văn L2, sinh năm 1968, bà Lê Thị Ú, sinh năm 1967. Cùng trú tại: Tổ E, khu phố G, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang

Bà Ú ủy quyền cho ông L2 tham gia tố tụng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn H ở nhờ nhà anh Trần Thanh H1 tại tổ A, ấp V, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Khoảng tháng 8 năm 2020, Nguyễn Văn T2 đến ở cùng với H. H mượn xe mô tô biển kiểm soát 93P2 - 593.85 của T2 đưa cho bạn gái là Trương Thị H2 sử dụng, H2 vi phạm Luật giao thông đường bộ nên Công an huyện L lập biên bản tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 93P2 - 593.85. T2 đưa giấy chứng minh nhân dân cho H đi đóng phạt, do xe mua trả góp, nên chỉ có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô photocopy nên Công an huyện L chưa trả xe mô tô lại cho H. H tiếp tục mượn 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus của T2 để cầm số tiền 700.000₫ nhưng thực tế H cầm điện thoại lấy số tiền 2.000.000đ và không chuộc điện thoại lại nên T2 và H xảy ra mâu thuẫn. Khi T2 đang ở cùng với H thì Nguyễn Văn T điện thoại cho T2 hỏi “Đang ở đâu?”, T2 nói đang ở chỗ của H và kể lại cho T nghe sự việc trên sau đó H đi về phòng trọ tại khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước [các bút lục số: 100 - 127; 276 - 293].

Khoảng 18 giờ ngày 09 tháng 10 năm 2020, sau khi đã uống bia, T nhờ T2 dẫn đến chỗ ở của Nguyễn Hoàng V lấy nợ số tiền 15.000.000đ. Trước khi đi, T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 93A - 153.48 chở T2 về nhà trọ của T lấy 01 túi xách màu đen (bên trong có 01 khẩu súng, loại súng đồ chơi nguy hiểm) đeo trước ngực. T2 nhìn thấy trên xe ô tô có để sẵn 01 ống tuýp màu đen ở vị trí cần thắng tay nên hỏi thì T nói: “Đó là cái ống T3, bên trong có con dao, khi cần dùng thì rút ra, khi không cần thì để thủ”, T2 vặn ống tuýp mở ra xem thì thấy bên trong ống tuýp có 01 con dao dài 49,2cm bằng kim loại, dạng 01 lưỡi sắc, mũi nhọn, phần lưỡi dao dài 34,5cm sau đó T2 để ống tuýp lại vị trí cũ.

T điều khiển xe ô tô chở T2 đến quán “Trường Y” tại KP A, phường T, thành phố Đ chở Lương Đức M1 (M) đi cùng. T2 chỉ đường cho T đi đến nhà ông Đinh Văn Q (bố vợ V) tại ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. T gọi V ra cổng nói chuyện, T lấy súng đồ chơi nguy hiểm và nói T2 lấy ống tuýp đưa cho T hù dọa V thì lúc này ông Q mời T vào nhà nói chuyện, T đưa ống tuýp cho T2 để lại trên xe ô tô. Khi vào nhà, T và M1 dùng tay tát vào mặt V, V hứa sẽ trả tiền nên T, M1 và T2 đi đến quán “Ốc Biển” tại phường T, TP . uống bia. Trong lúc uống bia, T hỏi chuyện mâu thuẫn giữa T2 và H đã giải quyết xong chưa? T2 nói là H vẫn chưa trả xe mô tô và điện thoại cho T2, khoảng 2 – 3 ngày sau T2 sẽ sang gặp H để giải quyết. T nói “Sẵn có xe giờ đi luôn”. T2 nói: “Giờ đã say rượu và muộn rồi để ngày mai đi, giờ sang nhỡ không gặp H thì mất công?”, T nói “Cứ đi sang nếu không gặp H coi như đi chơi” thì T2 đồng ý. T rủ M1 đi cùng để chạy xe cho T thì M1 đồng ý [bút lục số: 100 - 137; 153 - 186; 250 - 262; 265 - 275].

Khoảng 23 giờ cùng ngày, T điều khiển xe ô tô chở M1 và T2 đi đến khu vực xã T, huyện Đ thì M1 thay T điều khiển xe ô tô, T2 ngồi phía sau chỉ đường cho M1. Khi đến xã T, M1 dừng xe cách chỗ ở của H khoảng 100 mét và ngồi trong xe ô tô đợi. T đeo túi xách bên trong có khẩu súng, loại súng đồ chơi nguy hiểm, T2 lấy ống tuýp bên trong có con dao cầm trên tay đi vào phòng ngủ của H, T và H ngồi ở trên giường, T2 ngồi ở trước cửa phòng nói chuyện.

T hỏi lý do tại sao H mượn xe mô tô và điện thoại của T2 nhưng không trả lại cho T2 thì H chửi và đuổi T ra khỏi nhà đồng thời đứng dậy dùng tay phải đẩy vào ngực T lùi về phía sau. T dùng tay phải đưa vào trong túi đeo trước ngực lấy khẩu súng đồ chơi nguy hiểm ra đưa lên cao đánh trúng 01 cái vào vai trái, 01 cái trúng vào vùng đầu bên trái và 01 cái trúng vào đỉnh sau bên phải đầu của H. Sau đó T cất khẩu súng vào túi xách và yêu cầu H ngồi xuống nói chuyện. T2 cầm ống tuýp chạy vào định rút dao ra đánh H thì T can ngăn, nói T2 đi ra trước cửa phòng để T nói chuyện với H. T yêu cầu H phải chịu tiền nộp phạt để lấy xe mô tô và chuộc điện thoại lại cho T2 thì giữa T2 và H xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, T2 tiếp tục rút dao ra khỏi ống tuýp chạy vào đứng bên cạnh T, T đưa tay ngang bụng T2 để can ngăn nhưng T2 vẫn cầm dao bằng tay phải đâm liên tiếp 03 - 04 nhát trúng vùng ngực trái của H thì T đứng dậy dùng tay đẩy T2 đi ra phía ngoài cửa phòng rồi T và H đi ra xe ô tô. Trường quay lại lấy biên bản vi phạm giao thông đường bộ và giấy chứng minh nhân dân. Sau đó, T và T2 lên xe ô tô, M1 điều khiển xe ô tô chở T và T2 về phòng trọ ở thành phố Đ. Đến ngày 11/10/2020, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn T bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Phan Văn H được cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa thị xã B sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B để cấp cứu, đến 05 giờ ngày 10/10/2020 thì tử vong [bút lục số: 100 - 137, 153 - 186, 250 - 262, 412 - 413].

Khi về phòng trọ, T giấu ống tuýp bên trong có con dao ở phía sau cánh cửa phòng và đem khẩu súng đồ chơi nguy hiểm đến nhà anh Vũ Văn S tại ấp D, TT. T, huyện Đ nhờ cất giữ. Ngày 10/10/2020 anh Cao Trung T4 đến phòng trọ của T thì nhìn thấy ống tuýp, nghĩ là cần câu cá nên anh T4 đem về nhà mình, sau đó vợ anh T4 là chị Võ Thị Ngọc G giao nộp con dao cho cơ quan điều tra. Sau khi biết tin T sử dụng khẩu súng đồ chơi nguy hiểm vào mục đích phạm tội, anh S đã giao nộp khẩu súng cho Cơ quan điều tra.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 279/2020/GĐPY ngày 03 tháng 11 năm 2020 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận đối với Phan Văn H.

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:
    • Vùng ngực trái có ba vết thương đã khâu, các vết thương thông vào khoang màng phổi trái.
    • Vết thương thủng nhu mô phổi trái đã khâu.
    • Tràn máu màng phổi lượng nhiều.
    • Sốc mất máu cấp.
  2. Nguyên nhân chết: Phan Văn H, sinh năm 1989 bị vết thương thấu ngực gây thủng phổi, sốc mất máu cấp dẫn đến tử vong [bút lục số 30 - 31a].

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích qua hồ sơ số 221/2021/HS ngày 23/8/2021 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh B kết luận đối với bị hại Phan Văn H:

  • Vùng đỉnh đầu bên phải có vết dập đứt da nằm dọc thân dài 0,9cm, vết thương nằm trên diện sưng nề có kích thước (3,5 x 3,5)cm.
  • Vùng vai trái không có dấu vết tổn thương. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về ADN số: 403/20/TC-ADN ngày 12 tháng 11 năm 2020 của V1, kết luận:

  • Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên các mẫu giám định ký hiệu 1.2 (cái bật lửa hình khẩu súng quân dụng), ký hiệu 1.5 (áo thun ngắn tay có cổ màu đen của Nguyễn Văn T): Dương tính.
  • Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên các mẫu giám định ký hiệu 1.1 (trên con dao, thân ống tuýp và trong lòng ống tuýp), ký hiệu 1.3 (áo thun ngắn tay của Nguyễn Văn T2), ký hiệu 1.4 (quần dài màu xám của Nguyễn Văn T), ký hiệu 1.6 (dấu vết tại vị trí tay cầm đóng, mở cửa phía trong của 04 cánh xe ô tô BKS 93A – 153.48): Âm tính.
  • ADN thu từ các mẫu giám định ký hiệu 1.1 (phần cán của con dao) và 1.4 là ADN của nhiều người và không thể tách rời ADN của từng người riêng biệt nên không thể so sánh với ADN của Phan Văn H, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn T.
  • Không thu giữ được dữ liệu ADN đầy đủ từ mẫu giám định ký hiệu 1.1 (mẫu phết bề mặt ngoài của ống tuýp) 1.3 và 1.6 nên không thể so sánh với ADN của Phan Văn H, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn T.
  • Không thu giữ được dữ liệu ADN đầy đủ từ mẫu giám định ký hiệu 1.1 (phần lưỡi của con dao và mẫu phết bề mặt trong của ống tuýp) trên các locus STR đã phân tích.
  • ADN thu từ mẫu giám định ký hiệu 1.2 trùng khớp hoàn toàn với ADN của Phan Văn H.
  • ADN thu từ mẫu giám định ký hiệu 1.5 trùng khớp hoàn toàn với ADN của Nguyễn Văn T [bút lục số 391 - 397].

Tại Bản kết luận giám định pháp y về ADN số: 08/21/TC - ADN ngày 21 tháng 12 năm 2020 của V1, kết luận:

  • Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên các mẫu giám định các ký hiệu 1.1 (01 túi đeo bằng da màu đen); 1.4 (dấu vết màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt đã khô trên nền phòng ngủ): Âm tính.
  • Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên các mẫu giám định ký hiệu 1.2; 1.3 (điếu thuốc lá hiệu Jet đã qua sử dụng); 1.5 (vỏ ga trên giường); 1.6 (dấu vết màu nâu đỏ trên thành giường hướng tây): Dương tính.
  • Thu giữ được dữ liệu ADN đầy đủ của một nữ giới từ mẫu giám định ký hiệu 1.1 trên tất cả các locus STR đã phân tích.
  • ADN thu từ mẫu giám định ký hiệu 1.2 trùng khớp hoàn toàn với ADN của Nguyễn Văn T.
  • ADN thu từ các mẫu giám định các ký hiệu 1.3; 1.5; 1.6 trùng khớp hoàn toàn với ADN của Phan Văn H.
  • Không thu được dữ liệu ADN từ mẫu giám định ký hiệu 1.4 trên các locus STR đã phân tích [bút lục số 399 - 404].

Tại Bản kết luận giám định số: 188/C09B ngày 05 tháng 01 năm 2021 của Phân viện khoa học Hình sự tại TP . kết luận: Mẫu vật gửi giám định là súng đồ chơi nguy hiểm, sử dụng khí nén và không phải vũ khí quân dụng hay công cụ hỗ trợ. Sử dụng khẩu súng đồ chơi nguy hiểm nêu trên tác động vào cơ thể người có thể gây thương tích [bút lục số 388].

Tại Bản kết luận giám định số: 45/2020/GĐ-KTS ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • Không tìm thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung trong 09 tập tin video gửi giám định ký hiệu A1 - A9.
  • Trích xuất được 12 hình ảnh xe ô tô 04 chỗ màu trắng xuất hiện vào thời gian 23 giờ 49 phút ngày 09 tháng 10 năm 2020 đến 00 giờ 19 phút ngày 10 tháng 10 năm 2020 trong tập tin video ký hiệu A1 - A3 và 34 hình ảnh ghi nhận thời gian, diễn biến hành vi của những người ngồi nhậu bàn trong cùng bên phải từ lúc 16 giờ 42 phút 00 giây đến 20 giờ 00 phút 00 giây và những người ngồi nhậu bàn ngoài cùng bên phải từ lúc 22 giờ 18 phút 37 giây đến 22 giờ 55 phút 00 giây ngày 09 tháng 10 năm 2020 tại quán “Ốc Biển” trong tập tin video ký hiệu A4 - A9 [bút lục số 383 - 384].

Tại Bản kết luận giám định pháp y qua hồ sơ số 108/2021/HS ngày 28 tháng 5 năm 2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận:

  • Với tư thế thực nghiệm điều tra (biên bản thực nghiệm điều tra hồi 08 giờ 30 phút ngày 01/4/2021) khi T2 cầm con dao (vật chứng 1) tác động vào cơ thể có thể gây ra được thương tích vùng ngực trái của Phan Văn H.
  • Với tư thế thực nghiệm điều tra (biên bản thực nghiệm điều tra bổ sung hồi 14 giờ 30 phút ngày 24/5/2021) khi T cầm cái bật lửa hình khẩu súng (vật chứng 2) tác động vào cơ thể có thể gây ra được thương tích vùng đỉnh sau bên phải của Phan Văn H [bút lục số 406 - 410].

Tại Cáo trạng số 27/CTr-VKS-P2 ngày 21 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Ngày 30/11/2021 Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước đưa vụ án ra xét xử đối với các bị cáo T2 và T, tuy nhiên tại phiên Toà bị cáo T không đủ tỉnh táo và sức khoẻ để tham gia phiên toà nên đã hoãn phiên toà để làm thủ tục trưng cầu giám định đối với bị cáo T. Sau khi có kết quả giám định, ngày 21/02/2022 Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị cáo T nên ngày 26/7/2022 đã tiến hành xét xử đối với bị cáo T2 và Bản án số 20/2017/HSST ngày 26/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đối với bị cáo T2 đã có hiệu lực pháp luật. Sau khi có kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc, ngày 24/01/2024 Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước đã ra quyết định phục hồi vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2022/TLHS-ST ngày 06/9/2022 đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đã quyết định:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Giết người”.
  2. Về áp dụng điều luật và hình phạt:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s, q khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; 17; 38; 58 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2020.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/4/2024 bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 02/5/2024 đại diện bị hại là ông Phan Văn L2 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T vì bị cáo đã ăn năn hối cải, bồi thường 90.000.000 đồng và là lao động chính, phải bắt buộc chữa bệnh do bị tâm thần.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện bị hại là ông Phan Văn L2 vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, luật sư và bị cáo đề nghị xét xử vụ án theo quy định.

Bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm quy kết, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì mức án như Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là quá nặng. Bị cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới là bồi thường thêm cho đại diện bị hại 30.000.000 đồng. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Phan Văn L2.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ và được xét hỏi công khai tại phiên tòa thì có đủ cơ sở để kết luận bị cáo T cùng với T2 đã chuẩn bị hung khí là súng đồ chơi nguy hiểm, ống tuýp sắt bên trong có dao tìm gặp H để đòi tiền phạt chuộc xe máy, điện thoại. Trong lúc mâu thuẫn cãi nhau thì T2 dùng dao đâm liên tiếp 3-4 nhát vào vùng ngực trái của H gây thủng phổi, sốc mất máu cấp dẫn đến tử vong. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo T về tội “giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và đại diện bị hại: Mặc dù tại phiên tòa hôm nay bị cáo T có thêm một số tình tiết mới là bị cáo bị bệnh tâm thần từ năm 2019 và phải uống thuốc, gia đình bị cáo bồi thường thêm cho gia đình bị hại 30.000.000 đồng nhưng khi Quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo cũng như đánh giá về nhân thân, vai trò của bị cáo trong vụ án, từ đó xử phạt bị cáo mức án 08 năm tù là không nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo, đại diện bị hại và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu: Trong vụ án này cần xem xét đánh giá vai trò của bị cáo là đồng phạm giúp sức, bị cáo T được T2 rủ đến gặp H3 để đòi xe máy và điện thoại, khi xảy ra xô xát và chưa có thương tích gì nhưng T2 dùng dao đâm H thì T đã hai lần dùng tay ngăn cản, can ngăn không cho đâm bị hại nhưng T2 vẫn đâm chết bị hại. Như vậy bị cáo không mong muốn bị hại chết đề nghị Hội đồng xem xét đánh giá. Ngoài ra sau vụ án thì bị cáo bị ám ảnh rồi bị tâm thần do trước đó bị cáo đã uống thuốc trầm cảm, khi xét xử sơ thẩm thì bị cáo bị mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi. Mặc dù bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và sau khi xét xử phúc thẩm gia đình bị cáo đã bồi thường thêm cho gia đình bị hại 30.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo 04 năm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Do mâu thuẫn từ việc Phan Văn H mượn xe mô tô và điện thoại của Nguyễn Văn T2 nhưng không trả nên vào khoảng 23 giờ ngày 09/10/2020, T rủ T2 đi đến chỗ ở của H tại tổ A, ấp V, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước để nói chuyện, yêu cầu H trả lại xe mô tô và điện thoại cho T2. T mang theo túi xách bên trong có 01 khẩu súng, loại súng đồ chơi nguy hiểm, T2 lấy trên xe ô tô của T 01 ống tuýp bên trong có con dao dài 49,2cm bằng kim loại, dạng 01 lưỡi sắc, mũi nhọn, phần lưỡi dao dài 34,5cm cầm trên tay. Khi vào nhà T nói chuyện với H thì H chửi và đuổi T ra khỏi nhà, T cầm khẩu súng đồ chơi đánh 01 cái vào vai trái, 01 cái trúng vào vùng đầu bên trái và 01 cái trúng vào đỉnh sau bên phải đầu của H. Nguyễn Văn T2 thấy vậy cầm ống tuýp chạy vào định rút dao ra đánh H thì T can ngăn, nói T2 đi ra trước cửa phòng để T nói chuyện với H. T yêu cầu H phải chịu tiền nộp phạt để lấy xe mô tô và chuộc điện thoại lại cho T2, thì giữa T2 và H tiếp tục xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, T2 rút dao ra khỏi ống tuýp chạy vào đứng bên cạnh T, T đưa tay ngang bụng T2 để can ngăn nhưng T2 đã cầm dao đâm liên tục 03 - 04 nhát trúng vùng ngực trái của H gây thủng phổi, sốc mất máu cấp dẫn đến tử vong.

[2] Như vậy, chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà các bị cáo T, T2 sử dụng dao đâm chết người bị hại, do đó Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo phạm tội “giết người” với tình tiết định khung tăng nặng “có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T và đại diện bị hại, thấy rằng: Quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường cho gia đình bị hại, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính nuôi hai con nhỏ, bản thân có bệnh hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thêm tình tiết mới là bị cáo tác động gia đình bồi thường thêm cho gia đình bị hại 30.000.000 đồng, đồng thời, Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo không trực tiếp đâm chết bị hại, khi bị cáo T2 dùng dao đâm bị hại thì bị cáo đã ngăn cản 02 lần, bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm khi được rủ đi tìm bị hại để đòi xe máy và điện thoại. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đại diện bị hại, sửa một phần Bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo có cơ hội sớm trở về hoà nhập với cộng đồng là thể hiện sự nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm đề nghị bác kháng cáo của bị cáo, đại diện bị hại và giữ nguyên Bản án sơ thẩm là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[5] Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

[6] Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Về khoản tiền 30.000.000 đồng mà gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại sau khi xét xử sơ thẩm sẽ được đối trừ trong quá trình thi hành án.

[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của ông Phan Văn L2– đại diện bị hại Phan Văn H về nội dung xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn T.

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T.

Sửa Quyết định về hình phạt của Bản án sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Tuyên xử:

  1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s, q khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; 17; 38; 58 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) năm tù về tội “giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2020.

  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Ông Phan Văn L2, bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Về khoản tiền 30.000.000 đồng mà gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại sau khi xét xử sơ thẩm sẽ được đối trừ trong quá trình thi hành án.
  4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - TAND tỉnh Bình Phước (2);
  • - VKSND tỉnh Bình Phước (1);
  • - Cục THADS tỉnh Bình Phước (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước (1);
  • - Công an tỉnh Bình Phước (1);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Phước (2);
  • - Lưu VP(3), HS(2).ĐLN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Minh Thịnh

Thành viên Hội đồng xét xử

 

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cao Văn Tám

Bùi Thị Thu

Hoàng Minh Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 837/2024/HS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (về tội giết người)

  • Số bản án: 837/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (về tội Giết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo đại diện bị hại và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Sửa Quyết định về hình phạt của Bản án sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger