TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 836/2024/DS-PT Ngày: 25 - 9 - 2024 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương.
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Văn Tửu.
Bà Lê Thị Tuyết Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Trong các ngày từ 18 đến ngày 25 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 425/2024/TLPT-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2024/DS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2530/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1966 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Mai Công M1, Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
Địa chỉ: Công ty L4, số C N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Địa chỉ trụ sở: Khóm M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
- Ngân hàng N3 – Chi nhánh huyện C, tỉnh Trà Vinh;
Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Hồng G; Chức vụ: giám đốc A1 chi nhánh huyện C;
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Hồng G: Ông Trần Ngọc K; Chức vụ: Phó giám đốc (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm Mỹ Cẩm A, thị trấn Cầu Ngang, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh
- Ông Đoàn Thành C, sinh năm 1966 (vắng mặt).
- Ông Đoàn Hoàng T, sinh năm 1996 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của ông Đoàn Hoàng T: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 21/02/2022).
- Bà Trần Thị Kim S, sinh năm 1966 (có mặt).
- Ông Nguyễn Minh P, sinh năm 1990 (có mặt).
- Ông Nguyễn Trương, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Trương : Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1966 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 04/01/2022).
- Bà Đoàn Thị Ánh N, sinh năm 1992 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970 (có mặt).
- Ông Đoàn Minh M2, sinh năm 1965 (vắng mặt).
- Ông Đoàn Phi N1, sinh năm 1991 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974 (vắng mặt).
- Bà Trần Thị P1, sinh năm 1975 (có mặt).
- Ông Nguyễn Tấn L1, sinh năm 1998 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Kim N2, sinh năm 2006 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1947 (có mặt).
- Bà Đoàn Thị H, sinh năm 1968 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1992 (vắng mặt).
- Bà Mộng Thị L3, sinh năm 1990 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Người kháng cáo: Bị đơn, bà Nguyễn Thị M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ú trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 4, diện tích 2.023m², loại đất ONT+CLN, tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh hiện do bà Nguyễn Thị M đứng tên giấynhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) là của bà Khưu Thị H2, chết năm 1992 (là bà ngoại ông Ú). Năm 1975, bà H2 cho bà Nguyễn Thị B, chết năm 2019 (mẹ ông Ú) diện tích 170m² (ngang 6.2m x dài 35m) thuộc một phần thửa đất số 16 và ông Ú đã sống chung với mẹ từ lúc nhỏ đến khi lập gia đình, khi mẹ mất thì gia đình ông tiếp tục sử dụng phần đất này, sau đó do chỗ ở chật hẹp nên ông cất nhà ở riêng giao phần đất này cho con là Nguyễn Minh P và con dâu Nguyễn Thị Ngọc H1 ở nhưng ông vẫn tới lui thăm nom, quản lý.
Do bà B là vợ liệt sĩ nên năm 2006 mẹ ông được hưởng chế độ chính sách là Ủy ban nhân dân xã C3 cho 25.000.000 đồng để xây dựng nhà tình nghĩa, khi đó ông có phụ thêm tiền để cất nhà cơ bản hơn, từ khi xây dựng nhà ở đến khi bà B chết thì bà M không có tranh chấp gì. Trong quá trình ở trên đất ông có yêu cầu bà M tách quyền sử dụng đất để sinh sống ổn định nhưng bà M không đồng ý, với lý do chỉ cho bà B ở đến hết đời và lấy lại đất nên gia đình ông Ú không đồng ý.
Nay ông Ú yêu cầu công nhận diện tích đất 170m² (ngang 6,2m, dài 35m), trong tổng diện tích 2.023,6m², thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ do UBND huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị M đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn, bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà Minh xác n nguồn gốc thửa đất số 16 nêu trên là của bà Khưu Thị H2 nhưng đã tặng cho B1. Quá trình sử dụng đất, B1 đã thực hiện việc kê khai đăng ký với Nhà nước và được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ, đến năm 2010 thì được cấp đổi lại do một phần diện tích đất bị thu hồi để mở rộng Quốc lộ E.
Trước đây, bà H2 có cho con gái là bà Nguyễn Thị B (mẹ ông Ú) cất một căn chòi ở tạm để mua bán trái cây, sau đó sửa sang lại nhiều lần rồi dần mới xây dựng thành nhà tường như hiện nay. Việc ông Ú cho rằng bà B được UBND xã cho tiền để xây dựng nhà tình nghĩa thì bà không biết sự việc này. Trong thời gian bà Ba sinh s hai bên vẫn hòa thuận không có tranh chấp và Bà có quyền quản lý đất cũng không có ý định yêu cầu ông Ú phải di dời nhà, nhưng khi bà B chết thì ông Ú và các con dùng lời lẽ xúc phạm buộc Bà phải tách quyền sử dụng đất cho ông Ú thì bà M không đồng ý.
Nay bà M yêu cầu ông Nguyễn Văn Ú, bà Trần Thị Kim S, ông Nguyễn Minh P và ông Nguyễn Trương di d nhà và tài sản để trả lại cho Bà diện tích đất 122,3m² (theo kết quả đo đạc của Văn phòng Đ – chi nhánh huyện C), trong tổng
diện tích 2.023,6m², thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Nguyễn Minh P, bà Nguyễn Thị Kim S2 và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 trình bày: Thống nhất nội dung trình bày và yêu cầu của ông Nguyễn Văn Ú.
Ông Đoàn Thành C, bà Đoàn Thị Ánh N trình bày: Thống nhất nội dung và yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị M.
Ủy ban nhân dân huyện C trình bày:
Trên cơ sở bà Nguyễn Thị M có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 10/01/1996 ghi nguồn gốc sử dụng đất ông, bà được Hội đồng đăng ký ruộng đất xã có ý kiến xét cấp nên UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ cho hộ bà M toàn bộ diện tích 2.023,6m², loại đất ở + cây lâu năm, thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C. Tuy nhiên, trong quá trình cấp giấy cơ quan chuyên môn thuộc Sở Địa chính (nay là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T) không có tiến hành khảo sát, đo đạc diện tích đất mà căn cứ vào kết quả đo đạc của Sở Địa chính về việc đo đạc, thành lập bản đồ địa chính cấp giấy CNQSDĐ trên địa bàn huyện C (năm 1995 – 1996).
Ngân hàng N3 – Chi nhánh huyện C trình bày:
Ngân hàng không có tranh chấp về quyền sử dụng đất này của bà Nguyễn Thị M.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm 10/2024/DS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh, quyết định:
Căn cứ: Khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 158, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Ú.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 16 có diện tích 2.023,6m², loại đất ở + cây lâu năm khác, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ bà Nguyễn Thị M có số phát hành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: BB 811922; vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4423.
Giao cho ông Nguyễn Văn Ú được tiếp tục sử dụng diện tích đất 122,3m² trong đó, đất ở có diện tích 80m², đất cây lâu năm có diện tích 42,3 m², thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Ông Nguyễn Văn Ú có nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Diện tích 122,3m² có kích thước vị trí như sau: Hướng Bắc giáp phần còn lại thửa số 16 dài 21,5m; Hướng Nam giáp thửa 13 dài 21,5m; Hướng Đông giáp Quốc lộ E dài 5,9m; Hướng Tây giáp phần còn lại thửa số 16 dài 5,5m (Vị trí A trên sơ đồ khu đất kèm theo bản án).
Ủy ban nhân dân huyện C có nghĩa vụ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị M sau khi trừ diện tích 122,3m² của ông Nguyễn Văn Ú, nếu không bị các người khác tranh chấp.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 08/4/2024, bà Nguyễn Thị M kháng cáo cho rằng bản án sơ thẩm không khách quan, không đúng pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M giữ nguyên kháng cáo và trình bày:
Bà Nguyễn Thị B là mẹ của ông Nguyễn Văn Ú có 02 đời chồng là ông Nguyễn Văn D (liệt sĩ) và ông Nguyễn Văn D1 là ba của ông Nguyễn Văn Ú). Bà B và ông D có 04 người con là các ông (bà) Nguyễn Văn B2, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Thị Kim A. Ông Ú không phải là con của liệt sĩ. Việc cấp giấy CNQSDĐ cho bà M được thông báo trong thời gian 1 tháng, niêm yết tại trụ sở UBND xã nhưng gia đình ông Ú không có ý kiến. Đồng thời, UBND huyện có Công văn số 3893 ngày 11/8/2023 khẳng định việc cấp đất cho bà M là đúng quy định pháp luật.
Ông Nguyễn Văn Ú trình bày:
Mẹ ông là bà B có 2 đời chồng, trong đó, chồng trước có 4 người con và chồng sau có Ông là đúng. Anh chị của Ông đã được mẹ cho đất ở riêng trên phần đất của cha liệt sĩ, còn Ông ở lại buôn bán trên phần đất bà ngoại (Khưu Thị H2) cho. Năm 2006, bà B được cấp nhà tình nghĩa. Ông Ú là con riêng nên ở chung với bà B từ nhỏ đến lớn nên có quyền đề nghị tách thửa phần đất bà B được bà H2 cho. Bà M còn nhỏ nên không biết được đất này là của bà H2 cho bà B. Năm 1994, có thông báo của UBND huyện về việc thay đổi người đứng tên giấy CNQSDĐ thì bà M đi khai chứ không có ai xác minh, đo đạc.
Bà H2 có 4 người con là bà T2, bà B, bà S3 (là mẹ của bà M), bà S1 và ông Nguyễn Văn C2 (đã hi sinh từ trẻ). Bà B chết không để lại di chúc. Vấn đề chia tài sản mấy anh chị của ông không đòi hỏi vì bà B đã cho rồi. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bà M.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Bà Nguyễn Thị B có 2 đời chồng thì chồng thứ nhất mới là liệt sĩ (gồm 4 người con), còn ông Ú không phải là con của liệt sĩ. Nếu không đưa 4 người con còn lại của bà B vào tham gia tố tụng là không đúng. Bà B chết năm 2019 đến năm 2021 thì ông Ú mới có đơn khởi kiện, vậy, tại sao từ năm 2006 ông Ú không thực hiện việc tách thửa mà để đến khi bà B chết mới yêu cầu. Bà H2 có 4 người con và có chia cho 3 người con, mỗi người 5000m², riêng bà Nguyễn Thị S4 (mẹ của bà M) đã chết trước năm 1975, bà M ở với bà ngoại từ lúc 3 tuổi nên được
hưởng phần tài sản của bà H2 là có căn cứ. Mặc dù, việc tặng cho, kê khai không có văn bản nhưng được Hội đồng đất đai của xã chấp nhận. Bà M trình độ học vấn thấp nên chỉ biết là được cấp giấy CNQSDĐ, còn việc đo đạc hay không thì không biết. Bà M tôn trọng ý kiến của bà ngoại là cho bà B ở đến khi hết đời nên bà M mới để cho bà B ở.
Bà B xin đất ở để bán trái cây, nếu bà B xây nhà tình nghĩa thì nhà tình nghĩa này được hưởng chính sách của ông chồng đầu. Trường hợp, bà Ba k để lại di chúc thì những người được thừa hưởng phần đất này phải bao gồm 04 người con của chồng trước, không phải chỉ ông Ú được hưởng. Phần đất này đến năm 2021 thì ông Ú mới sử dụng nên không thể coi là đã sử dụng lâu dài. Nếu chỉ công nhận đất này cho ông Ú thì sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp 04 người con kia của bà B. Ông Ú chỉ tranh chấp 122,3m², còn tài sản trên phần đất là của ông Ú. Do đó, bị đơn đề xuất bán lại cho ông Ú phần đất tranh chấp này với giá 750 triệu đồng để bà M làm thủ tục tách thửa.
Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Ú.
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị M làm trong hạn luật định, đúng hình thức.
Về nội dung:
Căn cứ tài liệu, hồ sơ vụ án nhận thấy: Việc cấp giấy CNQSDĐ lần đầu và cấp đổi cho bị đơn là chưa đảm bảo pháp luật. Bị đơn cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ về nguồn gốc đất được tặng cho. Tại thời điểm cấp giấy CNQSDĐ, cơ quan nhà nước không đo đạc nên đã cấp không đúng đối tượng.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hủy giấy CNQSDĐ do UBND huyện C cấp cho hộ bà M là có căn cứ. Bị đơn kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, bác kháng cáo của bà Nguyễn Thị M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh thụ lý vụ án và giải quyết là đúng pháp luật. Bị đơn kháng cáo đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Quá trình tố tụng, bị đơn có yêu cầu ông Nguyễn Văn Ú, bà Trần Thị Kim S, ông Nguyễn Minh P và ông Nguyễn Trương di d nhà và tài sản để trả lại cho diện tích 122,3m². Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là ý kiến phản bác của bị đơn là không đúng. Trường hợp này, ngoài ý kiến không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn còn có yêu cầu ông Ú, bà S, ông P và ông Trương di d tài sản để trả lại đất nên được xem là yêu cầu phản tố của bị đơn như Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xác định và buộc bị đơn nộp tạm ứng án phí là đúng quy định.
Về nội dung:
[3] Nguyên đơn và bị đơn xác nhận: Thửa đất số 16, diện tích 2.023,6m² tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C có nguồn gốc của bà Khưu Thị H2 (là bà ngoại của ông Ú và bà M).
[4] Nguyên đơn cho rằng, năm 1975, bà Khưu Thị H2 đã cho bà Nguyễn Thị B một nền nhà và bà B đã xây nhà ở, sau khi bà B chết thì nguyên đơn tiếp tục quản lý nhà đất trên cho đến nay nên yêu cầu hủy một phần giấy CNQSDĐ đã cấp cho bà M đối với diện tích 122,3m²; Còn bị đơn cho rằng đã được bà H2 cho toàn bộ diện tích 2.023,6m², được cấp giấy CNQSDĐ hợp pháp nên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, đồng thời có yêu cầu phản tố buộc tháo dỡ, di dời nhà và tài sản trên diện tích 122,3m² để trả lại đất cho bị đơn.
[5] Xét trình bày và yêu cầu của các đương sự, thấy rằng:
[5.1] Hồ sơ vụ án thể hiện:
[5.1.1] Ngày 17/6/1996, bà M được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ đối với diện tích 2.270m², thửa 16, tờ bản đồ số 4 tại ấp L, xã L, huyện C. Ngày 18/5/2010, UBND huyện C ban hành Quyết định số 1079/QĐ-UBND có nội dung thu hồi 246,0m² thửa 16 để thực hiện dự án: Cải tạo nâng cấp Quốc lộ E trên km 67 - km 114 tỉnh Trà Vinh. Ngày 22/9/2010, bà M được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ đối với diện tích 2.023,6m², thửa 16, tờ bản đồ số 4.
[5.1.2] Theo công văn số 3893/UBND-NC ngày 11/8/2023 của UBND huyện C, có nội dung: Trên cơ sở bà Nguyễn Thị M có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 10/01/1996 ghi nguồn gốc sử dụng đất của ông, bà, được Hội đồng đăng ký ruộng đất xã có ý kiến xét cấp nên ngày 17/6/1996, UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ cho hộ bà M toàn bộ diện tích đất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C. Tuy nhiên, trong quá trình cấp giấy CNQSDĐ, cơ quan chuyên môn không tiến hành khảo sát, đo đạc diện tích đất mà căn cứ vào kết quả đo đạc của Sở Địa chính (nay là Sở T) về việc đo đạc, thành lập bản đồ địa chính cấp giấy CNQSDĐ trên địa bàn huyện C (năm 1995 – 1996) để cấp giấy CNQSDĐ.
[5.1.3] Mặc dù nguyên đơn cho rằng căn nhà tình nghĩa do bà B xây dựng từ nguồn tiền do UBND xã L cấp nhưng không có căn cứ chứng minh, còn bị đơn không thừa nhận, Tòa án cấp sơ thẩm cũng không hỏi ý kiến của UBND xã L về căn nhà tình nghĩa trên. Tuy nhiên, tại biên bản hòa giải ngày 06/10/2021 (bút lục 04), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà Đoàn Thị Ánh N (là con bà M)
trình bày: “Lý do trước đây, mẹ con cho xây nhà tình nghĩa trên thửa đất này do mẹ con không nắm được quy định của nhà nước”. Vì vậy, có căn cứ xác định căn nhà do bà B xây dựng là nhà tình nghĩa.
[5.1.4] Tại Đơn kháng cáo ngày 08/4/2024 của bà M (bút lục 244), có nội dung:
.......“Bà ngoại Tôi có cho bà Nguyễn Thị B -Mẹ của ông Nguyễn Văn Ú cất 01 cái chòi lá để mưu sinh...
Khi Tôi còn nhỏ, cái chòi lá được cơi nới và sửa chữa theo thời gian.
Bà ngoại Tôi nói với Tôi cho dì 3 là bà Nguyễn Thị B ở hết đời dì....
Trong thời gian dì 3 là Nguyễn Thị B còn sống (chết năm 2019), bà Nguyễn Thị B không có tranh chấp gì với Tôi”.
Tại biên bản thẩm định tại chỗ ngày 19/5/2022, thể hiện: Trên phần đất tranh chấp có các tài sản: Nền xi măng, diện tích 19,25m² xây dựng năm 2019; mái tole kết cấu thép, diện tích 19,25m² xây dựng năm 2019; nhà khung bê tông cốt thép, diện tích 49,5m² xây dựng năm 2006; nhà khung bê tông cốt thép, diện tích 31,35m² xây dựng năm 2010; mái tole kết cấu gỗ, diện tích 19,25m² xây dựng năm 2010.
[5.2] Như vậy, có căn cứ xác định bà H2 đã cho bà B một phần đất, được bà B đã sử dụng để ở khi bà H2 còn sống và trước khi cho bà M, sau khi được cấp tiền thì bà B đã xây nhà tình nghĩa tại khu đất được bà H2 cho. Bà M biết việc bà B xây nhà và ở trên đất nhưng không phản đối.
[5.3] Tòa án cấp sơ thẩm xác định nhà đất tranh chấp là tài sản của bà B là có căn cứ nên đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là đúng pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn xác nhận bà B có 5 người con là các ông (bà) Nguyễn Văn B2, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Thị Kim A và Nguyễn Văn Ú, trong đó ông D đã chết, những người còn lại đang sống tại địa phương; bà B chết không để lại di chúc. Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm công nhận cho một mình ông Ú được quyền sử dụng diện tích 122,3m² và tài sản trên đất là không đúng, ảnh hưởng đến quyền lợi của những thừa kế khác của bà B. Vì vậy, cần xác định diện tích đất và tài sản trên đất là di sản chưa chia của những thừa kế của bà B.
[6] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn: Mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm xác định việc yêu cầu ông Ú, bà S, ông P và ông Trương di d tài sản để trả lại đất là ý kiến phản bác nên không giải quyết là không đúng. Tuy nhiên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, đồng nghĩa việc yêu cầu phản tố của bị đơn không có căn cứ. Vì vậy, việc cấp sơ thẩm không giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn là vi phạm tố tụng nhưng sai sót này không đến mức phải hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại, gây kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất sửa lại cách tuyên cũng không vi phạm tố tụng, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[7] Như vậy, chỉ có căn cứ chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần ý kiến của Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo của bà M, sửa một phần bản án sơ thẩm. Bà M phải chịu chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm, án phí phúc thẩm.
[8] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH/14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị M.
- Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Ú.
- Hủy giấynhận quyền sử dụng đất số BB 811922 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ bà Nguyễn Thị M ngày 22/9/2010 đối với thửa đất 16, diện tích 2.023,6m², loại đất ở + cây lâu năm khác, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Ú về việc công nhận quyền sử dụng đất diện tích 122,3m², thửa đất số 16, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Ông Nguyễn Văn Ú và các thừa kế của bà Nguyễn Thị B có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất đối với tích 122,3m², thửa đất số 16, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh theo quy định của pháp luật.
Kích thước, vị trí như sau: Hướng Bắc giáp phần còn lại thửa số 16 dài 21,5m; Hướng Nam giáp thửa 13 dài 21,5m; Hướng Đông giáp Quốc lộ E dài 5,9m; Hướng Tây giáp phần còn lại thửa số 16 dài 5,5m (Vị trí A trên sơkhu đất kèm theo bản án).
- Ủy ban nhân dân huyện C có nghĩa vụ cấp lại giấynhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị M sau khi trừ diện tích 122,3m² nêu trên theo quy định pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Ú, bà Trần Thị Kim S, ông Nguyễn Minh P và ông Nguyễn Trương di d nhà và tài sản để trả lại diện tích đất 122,3m².
- Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 2.024.000 đồng. Do ông Nguyễn Văn Ú đã tạm ứng nên bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn Ú 2.024.000 (Hai triệu, không trăm hai mươi tư nghìn) đồng.
- Án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0017458 ngày 28/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang, bà M đã nộp đủ.
Ông Nguyễn Văn Ú không phải chịu án phí sơ thẩm và được trả lại 2.975.000 (Hai triệu, chín trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006746 ngày 13/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang.
- Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0002597 ngày 08/4/2024 của Cụchành án dân sự tỉnh Trà Vinh.
- Án phí sơ thẩm:
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đức Phương |
Bản án số 836/2024/DS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 836/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
