Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 835/2024/DS-ST.

Ngày: 20/9/2024

v/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Trường Sanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tuyết M – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 112/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 468/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 375/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S

Địa chỉ: Lầu H, 2 N, phường H, Quận C, Tp . Hồ Chí Minh

Đại diện ủy quyền: Ông Lã Ngọc M1 – sinh năm: 1970 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 1 khu phố B phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Phạm Thị Mỹ T – sinh năm: 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: 2 ấp A, xã X, huyện H, Tp.Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 12 tháng 01 năm 2024, bản tự khai tại Tòa án và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 20/09/2022, bà Phạm Thị Mỹ T có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng– các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Phạm Thị Mỹ T, Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng số 472074 - 6162 với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Phạm Thị Mỹ T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 31.800.000 đồng. Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Phạm Thị Mỹ T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 5.859.575 (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Phạm Thị Mỹ T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Phạm Thị Mỹ T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 10/6/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện K hành sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 35.016.741 đồng làm nợ gốc và tính lãi hàng tháng trên dư nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong hạn là 2,6%/tháng X 150%= 3,9%/tháng lãi quá hạn). Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà Phạm Thị Mỹ T, yêu cầu bà Phạm Thị Mỹ T có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để bà Phạm Thị Mỹ T trả nợ, tuy nhiên bà Phạm Thị Mỹ T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu buộc bà Phạm Thị Mỹ T phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 20/09/2024 là 57.681.045 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bảy triệu, sáu trăm tám mươi một nghìn, bốn mươi lăm đồng) trong đó nợ gốc: 35.016.741 đồng, lãi quá hạn: 22.664.304 đồng. Bà Phạm Thị Mỹ T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà Phạm Thị Mỹ T vắng mặt không có lý do, phía đại diện ủy quyền nguyên đơn có đơn xin vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu: Việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa Thẩm phán, thư ký và thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng, được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S với bà Phạm Thị Mỹ T được xác định là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn trong vụ án hiện cư trú tại huyện H, căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã niêm yết và tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn bà Phạm Thị Mỹ T vắng mặt không lý do. Đại diện ủy quyền nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt không tham gia phiên tòa. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung tranh chấp: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị Mỹ T thanh toán số nợ tính đến ngày 20/09/2024 là 57.681.045 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bảy triệu, sáu trăm tám mươi một nghìn, bốn mươi lăm đồng) trong đó nợ gốc: 35.016.741 đồng, lãi quá hạn: 22.664.304 đồng. Bà Phạm Thị Mỹ T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Xét Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng, được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S với bà Phạm Thị Mỹ T ngày 20/9/2022 đã thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T đã vi phạm trả tiền gốc và lãi theo thỏa thuận, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn, do đó nguyên đơn khởi kiện bà T là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trả nợ gốc của nguyên đơn.

Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Do mức lãi suất do các bên tự thỏa thuận nên căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

Từ nhận định trên Hội đồng xét xử buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền tính đến ngày 20/09/2024 là 57.681.045 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bảy triệu, sáu trăm tám mươi một nghìn, bốn mươi lăm đồng) trong đó nợ gốc: 35.016.741 đồng, lãi quá hạn: 22.664.304 đồng.

Kể từ ngày 21/9/2024 bà Phạm Thị Mỹ T còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cho đến ngày trả hết nợ.

[4] Đối với phía bị đơn, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, Thông báo phiên hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, như vậy bị đơn đã từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, do đó Hội đồng không xem xét.

Xét ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiên của nguyên đơn. Ý kiến này của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm bà Phạm Thị Mỹ T phải chịu theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 155, 156, 157, 158 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    Buộc bà Phạm Thị Mỹ T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tính đến 20/09/2024 là 57.681.045 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bảy triệu, sáu trăm tám mươi một nghìn, bốn mươi lăm đồng) trong đó nợ gốc: 35.016.741 đồng, lãi quá hạn: 22.664.304 đồng.

    Kể từ ngày 21/9/2024 bà Phạm Thị Mỹ T còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cho đến ngày trả hết nợ.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Mỹ T chịu 2.884.052 (Hai triệu tám trăm tám mươi bốn ngàn không trăm năm mươi hai đồng). Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 1.100.294 (Một triệu một trăm ngàn hai trăm chín mươi bốn) đồng, theo biên lai thu số 0024111 ngày 27/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSNDHHM;
  • - THA DS HHM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Trường Sanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 835/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 835/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger