Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 834/2023/HS-PT

Ngày 30 – 10 – 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Long

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tửu

Ông Hà Huy Cầu

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Duy Minh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 535/2023/TLPT-HS ngày 24 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Minh Q và các bị cáo khác.

Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2023/HS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Minh Q; Giới tính: Nam, sinh ngày 09/5/2004 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: 529, tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không, Trình độ học vấn: lớp 12/12; Nghề nghiệp: Học viên Trường Cao đẳng N1; Họ tên cha: Nguyễn Minh K (Nguyễn Văn K1), sinh năm: 1975; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; Bị cáo là con một trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp và bị tạm giữ từ ngày 29/3/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
  2. Lương Vũ T; Giới tính: Nam, sinh ngày 30/3/2004 tại tỉnh Trà Vinh; Theo Kết luận giám định pháp y về độ tuổi thì tính đến thời điểm phạm tội, bị cáo T 17 tuổi 6 tháng 21 ngày; Nơi đăng ký thường trú: ấp N, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: Tổ G, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: lớp 11/12; Nghề nghiệp: Học viên Trường Cao đẳng N1; Họ tên cha: Lương Văn C, sinh năm 1977; Họ tên mẹ: Lương Thị L, sinh năm 1979; Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có ba anh chị em; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp và bị tạm giữ từ ngày 29/3/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
  3. Hoàng Hữu Q1; Giới tính: Nam; Sinh ngày 30/4/2004 tại tỉnh Hà Tĩnh; Theo Kết luận giám định pháp y về độ tuổi thì tính đến thời điểm phạm tội, bị cáo Q1 17 tuổi 7 tháng 21 ngày; Nơi đăng ký thường trú: Tổ C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ H, ấp D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Nghề nghiệp: Học viên Trường Cao đẳng N1; Họ tên cha: Hoàng Hữu H1, sinh năm 1979; Họ tên mẹ: Trần Thị K2, sinh năm 1979; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có hai anh em; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp và bị tạm giữ từ ngày 29/3/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
  4. Trần Hoàng T1; Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/4/1995 tại tỉnh Cà Mau; Nơi đăng ký thường trú: Khóm B, Phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Khóm D, Phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 10/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Họ tên cha: Trần Văn H2, sinh năm 1959 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Tuyết P, sinh năm 1959; Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có ba chị em; Họ tên vợ: Nguyễn Huyền M, sinh năm 1992 và có 02 con: Con lớn sinh năm 2016; Con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 217/LC-CSHS-Đ4 ngày 29/11/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ (có mặt).
  • - Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Minh Q: Luật sư Trịnh Bá T2, Văn phòng Luật sư Trịnh Bá T2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
  • - Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Lương Vủ T: Luật sư Đỗ Hải B, Văn phòng L5, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
  • - Người bào chữa cho các bị cáo Hoàng Hữu Q1 theo luật định: Luật sư Phạm Thị My L1, Văn phòng L6, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Minh Q: Ông Nguyễn Minh K (Nguyễn Văn K1), sinh năm: 1975, địa chỉ cư trú: khu E, ấp H, xã A, huyện L, Đồng Nai; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980. Địa chỉ: E, tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hoàng Hữu Q1:ông Hoàng Hữu H1, sinh năm 1979 và bà Trần Thị K2, sinh năm 1979, nơi cư trú: Tổ H, ấp D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lương Vủ T: ông Lương Văn C, sinh năm 1977 và bà Lương Thị L, Nơi cư trú: Tổ G, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
  • - Bị hại: Anh Phạm Trọng N, sinh năm 2001 (đã chết).
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại:
    1. Ông Phạm Đình T3, sinh năm 1971. Địa chỉ: Tổ D, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Địa chỉ liên hệ: A N, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, là cha của bị hại.
    2. Bà Nguyễn Thị Hải L2, sinh năm 1973. Địa chỉ: 35/5/34, hẻm C, đường Q, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai, là mẹ của bị hại.
  • - Người làm chứng:
    1. Anh Đoàn Minh C1, sinh năm 1999 (vắng mặt); Địa chỉ: Cà phê A, khu I, phố L, xã T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
    2. Anh Vũ Duy S, sinh năm 2001 (vắng mặt); Địa chỉ: Ấp H, phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
    3. Anh Phan Tuấn V, sinh năm 2001 (vắng mặt); Địa chỉ: Khu phố L, xã T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
    4. Anh Dương Văn T4, sinh năm 2004 (vắng mặt); Địa chỉ: Khu phố L, xã T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • - Người tham gia tố tụng khác: Trường Cao Đẳng C3. Địa chỉ: Xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

(Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Tạ Quang L3 không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 27/3/2022, Lương Vũ T cùng Dương Văn T4, Phan Tuấn V, Nguyễn Minh Q (Q trắng), Hoàng Hữu Q1 (Q1 đen), Tạ Quang L3 đến hát Karaoke tại quán “Hồng Thu”, địa chỉ: đường P, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 01 giờ ngày 28/3/2022, nhóm T ra về điều khiển 03 xe môtô lưu thông trên đường P (hướng ngã ba Thái Lan đến ngã ba D). Trên đường đi Minh Q phát hiện đã để quên cục sạc điện thoại di động ở quán “Hồng Thu” nên điều khiển xe chở T quay lại lấy. Khi đến, do quán đã đóng cửa nên Minh Q, T quay về. Khi Minh Q, T, Hữu Q1, L3, T4, V đi ngang qua nhà hàng “Hồng Ngọc”, địa chỉ: đường P, ấp H, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì gặp Trần Hoàng T1, Phạm Trọng N và Vũ Duy S đang ngồi nhậu. Hai nhóm khiêu khích chửi nhau và nhóm T lao vào đánh nhau với nhóm T1, nhưng không ai bị thương tích, sau đó hai nhóm giải tán đi về.

Khi T1 điều khiển xe mô tô hiệu Wave màu đỏ chở N thấy Minh Q điều khiển xe Wave màu trắng chở T nên T1 nói: “Rượt theo đánh nó lại”. N đồng ý rồi điều khiển xe đuổi theo Minh Q và T đến hẻm bên hông Trường mầm non "", địa chỉ: khu phố L, phường T, thành phố B. Cùng lúc này, L3 điều khiển xe chở Hữu Q1 đi đến nhà Đ theo hướng hẻm bên hông Trường mầm non "” thì dừng lại đi vệ sinh. Sau đó, Hữu Q1 đổi tay lái cho L3. Đi được một đoạn thì phát hiện T1, N điều khiển xe theo hướng ngược lại đang đuổi theo Minh Q, T nên Hữu Q1 điều khiển xe quay lại để hỗ trợ T đánh lại nhóm T1. Khi gần đến chỗ T, Minh Q thì Hữu Q1 dừng xe, làm L3 ngồi sau bị xe mô tô đè lên người, nằm dưới nền đường. N cầm nón bảo hiểm tiến đến đánh thì bị T dùng tay kẹp cổ, đấm 04, 05 cái vào vùng mặt và dùng chân đạp 01, 02 vào vùng bụng của N. Minh Q giật nón bảo hiểm trên tay của N rồi cầm nón đập khoảng 10 cái vào vùng đầu, mặt của N. Hữu Quang tiến đến đấm 03, 04 cái trúng mặt của N và dùng chân đạp 02 cái trúng người N. Thấy vậy T1 cầm 01 trái dừa tiến đến hỗ trợ N thì Hữu Q1 xô T1 vào tường rào của T5 mầm non, còn Minh Q cầm nón bảo hiểm, T dùng tay cùng đánh T1. Minh Q quay lại tiếp tục cầm nón bảo hiểm đánh N 03 cái thì N ôm đầu chống đỡ. Sau đó, L3 tự đứng dậy điều khiển xe chở Hữu Q1, Minh Q chở T bỏ đi. T1 chở N đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1 nhưng N đã tử vong.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 626/KL-KTHS ngày 30/5/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong của Phạm Trọng N như sau:

  • - Dấu hiệu chính: Bên ngoài xây sát bầm tím da vùng đầu - mặt; xây sát vùng mỏm cùng vai, gai chậu sau trên; xây sát da cánh tay, bầm tím da vùng cổ- bàn tay hai bên. Tụ máu dưới da đầu, xuất huyết màng não mềm hai bán cầu đại não và tiểu não, xuất huyết thân não và quanh thân não, trong não thất có máu. Các tạng vùng ngực - bụng không thấy tổn thương. Kết quả vi thể: Xuất huyết, tụ máu não và phù não, hình ảnh phù nề, sung huyết các tạng.
  • - Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não nặng xuất huyết màng não mềm, xuất huyết quanh thân não, xuất huyết thân não và não thất.
  • - Hung khí: Vật tày không có cạnh. (Bút lục số: 46-47).

Vật chứng của vụ án bị thu giữ gồm: 01 nón bảo hiểm màu trắng, trên nón có in dòng chữ “Seuderi Rerrari”, bị vỡ; 01 nón bảo hiểm màu xanh, trên nón có in dòng chữ “KYC”, bị vỡ; 01viên gạch màu đỏ, loại 04 lỗ; 01 trái dừa (đã hết nước bên trong); 01 đôi dép nhựa màu đen, kẻ sọc trắng-đỏ; 01 áo dài tay màu đen (loại có mũ trùm đầu); 01 USB chứa các video clip liên quan đến vụ án. (Bút lục số: 24-34; 58a).

Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Đình T3 và bà Nguyễn Thị Hải L2 (đại diện gia đình người bị hại Phạm Trọng N) yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí viện phí 2.000.000 đồng, chi phí mai táng 100.000.000 đồng và tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật. Hiện các bị cáo Nguyễn Minh Q, Lương Vủ T và Hoàng Hữu Q1 đã bồi thường số tiền 330.000.000 đồng cho gia đình người bị hại Phạm Trọng N (trong đó: mỗi gia đình các bị cáo bồi thường số tiền 110.000.000 đồng). (Bút lục số: 317-325).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2023/HS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, đã tuyên xử:

  • Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 50, Điều 38, Điều 58, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh Q, Lương Vủ T và Hoàng Hữu Q1 phạm tội “Giết người”.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q: 15 (mười lăm năm tù);
  • Xử phạt bị cáo Lương Vủ T: 14 (mười bốn năm tù);
  • Xử phạt bị cáo Hoàng Hữu Q1: 13 (mười ba năm tù);
  • Thời hạn tù của cả 03 bị cáo tính từ ngày 29/3/2022.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng T1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Xử phạt bị cáo Trần Hoàng T1 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án, được trừ thời tạm giữ từ ngày 30/3/2022 đến ngày 7/4/2022.
  • Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Tạ Quang L3; phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/6/2023, bị cáo Nguyễn Minh Q, Hoàng Hữu Q1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 23/6/2023, bị cáo Lương Vũ T6 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 26/6/2023, bị cáo Trần Hoàng T1 kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo Nguyễn Minh Q, Hoàng Hữu Q1, Lương Vũ T6 và Trần Hoàng T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết vụ án. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Nguyễn Minh Q, Lương Vũ T và Hoàng Hữu Q1 phạm tội “Giết người” là có căn cứ, đúng pháp luật. Về mức hình phạt mà cấp sơ đã xử phạt đối với từng bị cáo là tương xứng tính chất, mức độ và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho các bị cáo bị xét xử về tội “Giết người” đều cho rằng Tòa sơ thẩm xét xử về tội giết người là đúng về tội danh. Tuy nhiên lỗi thuộc về các bị hại vì mặc dù các xích mích đánh nhau trước đó nhưng cả 02 nhóm đều đã đi về thì nhóm người bị hại tiếp tục đuổi theo nhóm bị cáo để đánh nhau. Nón bảo hiểm là hung khí đánh người bị hại là của chính người bị hại dùng để tấn công bị cáo. Bị cáo Minh Q đã cướp được nón bảo hiểm nên đã đánh lại. Vì thế các luật sư cho rằng người bị hại cũng có lỗi, nên các bị cáo phạm tội không có tính chất côn đồ. Ngoài ra các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Sau khi Tòa sơ thẩm tuyên án, gia đình người bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại khung hình phạt và giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo vì khi phạm tội các bị cáo là người dưới 18 tuổi nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế.

Bị cáo Trần Hoàng T1 cho rằng cũng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, con nhỏ nên mức án mà Tòa sơ thẩm tuyên phạt là nghiêm khắc đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng các bị cáo đều tỏ ra ăn năn hối cải và mong muốn nhận được sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    Đơn kháng cáo của các bị cáo được nộp trong thời hạn luật định nên là kháng cáo hợp lệ.

    Trường Cao Đẳng C3 có đơn xin vắng mặt và những người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai ở Cơ quan điều tra. Do đó sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự.

  2. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung của bản án sơ thẩm nhận định. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đã được xem xét công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 28/3/2022, Nguyễn Minh Q (Q trắng), Hoàng Hữu Q1 (Q1 đen) và Lương Vũ T đã có hành vi dùng tay, chân và nón bảo hiểm để đánh vào đầu, mặt, bụng của anh Phạm Trọng N làm cho anh N tử vong do chấn thương sọ não nặng.

    Nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Minh Q, Lương Vũ T và Hoàng Hữu Q1 được xác định xuất phát chỉ từ một mâu thuẫn nhỏ khi nhóm bị cáo và người bị hại có sự khiêu khích qua lại lẫn nhau. Hung khí sử dụng để tấn công người bị hại mặc dù không có sự chuẩn bị trước, nhưng các bị cáo đều nhận thức được hành vi dùng tay chân và nón bảo hiểm đánh liên tiếp vào người và đầu bị hại có thể gây nguy hại đến sức khỏe, đoạt tính mạng của họ. Hậu quả chết người xảy ra, các bị cáo tuy không mong muốn nhưng có ý thức bỏ mặc cho xảy ra. Do đó, Tòa sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Minh Q, Lương Vũ T và Hoàng Hữu Q1 về tội “Giết người” với tình tiết tăng nặng định khung “Có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Đối với Trần Hoàng T1 là người gây sự với nhóm của bị cáo Minh Q trước đó dẫn đến xô xát giữa hai nhóm tại nhà hàng H3, đồng thời cũng là người rủ anh N đánh các bị cáo trả thù và điều khiển xe chở anh N đuổi theo xe của Minh Q và T, dẫn đến sự việc đánh nhau gây ra hậu quả nghiêm trọng khiến anh N tử vong. Do đó tòa sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Hoàng T1 về tội “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

  3. Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
    1. Đối với các bị cáo Nguyễn Minh Q, Lương Vũ T và Hoàng Hữu Q1.

      Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng của người khác là khách thể đặc biệt được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội, trật tự trị an tại địa phương.

      Đây là vụ án có đồng phạm mang tính giản đơn, nên cần phân tích vai trò của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt.

      Đối với bị cáo Nguyễn Minh Q là người trực tiếp cầm nón bảo hiểm đánh nhiều cái vào đầu anh Nghĩa là nguyên nhân chính dẫn đến anh N tử vong nên phải chịu hình phạt cao nhất. Bị cáo T ngoài việc đánh, đấm nhiều cái vào mặt và đạp vào bụng của anh N, thì bị cáo còn ôm giữ anh N tạo điều kiện thuận lợi để Minh Q đánh vào đầu bị hại nên bị cáo cũng phải chịu mức hình phạt nghiêm, chỉ sau bị cáo Minh Q. Bị cáo Hoàng Hữu Q1 cũng có hành vi đấm nhiều cái vào mặt và đạp 02 cái vào người của anh N, nên cũng phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện.

      Xét thấy việc phân hóa hình phạt theo tính chất, mức độ và vai trò của từng bị cáo như trên mà cấp sơ thẩm áp dụng là có căn cứ theo đúng quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm. Tuy nhiên, xét thấy cả 03 bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, còn đang đi học (đều là học viên của Trường Cao đẳng N1); các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; đã bồi thường cho cha mẹ bị hại tổng cộng 330.000.000đ và được cha mẹ bị hại xin xem xét cho các bị cáo; con nhỏ của gia đình bị cáo Minh Q và Hữu T1; có công với cách mạng (ông ngoại của bị cáo Hữu Q1 là thương binh 4/4, cha và ông ngoại của bị cáo Minh Q là bộ đội, có nhiều huân huy chương kháng chiến và nhiều thành tích trong chiến đấu, bà ngoại của Minh Q là con gái của Liệt sĩ Hà Quang T7 và mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị T8), bản thân bị cáo Minh Q cũng có nhiều thành tích trong học tập, hàng năm đều được nhà trường tặng thưởng giấy khen. Tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình người bị hại tiếp tục có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bị hại cũng có một phần lỗi. Do đó, đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh Q, Lương Vũ T và Hoàng Hữu Q1 được Hội đồng xét xử chấp nhận.

    2. Đối với bị cáo Trần Hoàng T1:

      Bị cáo cũng là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có 02 con còn nhỏ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người rủ rê, xúi giục người bị hại đuổi theo để đánh nhóm bị cáo Minh Q gây mất trật tự công cộng và đã gây ra hậu quả nghiêm trọng. Do đó mức án mà Tòa sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo không nặng, phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi của bị cáo, nên đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

    3. Quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của kiểm sát viên không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
    4. Quan điểm của các Luật sư bào chữa cho các bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
    5. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
    6. Về án phí: căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để giải quyết.

    Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh Q, Lương Vũ T và Hoàng Hữu Q1;

    Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2023/HS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

    + Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 50, Điều 38, Điều 58, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh Q, Lương Vũ T và Hoàng Hữu Q1 phạm tội “Giết người”.

    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q 13 (Mười ba) năm tù.
    • Xử phạt bị cáo Lương Vủ T 12 (Mười hai) năm tù.
    • Thời hạn tù của cả 02 bị cáo tính từ ngày 29/3/2022. Tiếp tục tạm giam các bị cáo để bảo đảm thi hành án.

    + Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 50, Điều 38, Điều 58, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    • Xử phạt bị cáo Hoàng Hữu Q1 11 (Mười một) năm tù.
    • Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng T1;

    Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2023/HS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về phân hình phạt đối với bị cáo Trần Hoàng T1.

    Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng T1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Xử phạt bị cáo Trần Hoàng T1 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30/3/2022 đến ngày 7/4/2022.

  3. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Về án phí hình sự phúc thẩm:

    Các bị cáo Nguyễn Minh Q, Lương Vũ T và Hoàng Hữu Q1 không phải chịu.

    Bị cáo Trần Hoàng T1 phải chịu 200.000 đồng.

  5. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai (4);
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Đồng Nai (6);
  • (Để t/đ cho các bị cáo)
  • - BCTN (1)
  • - Lưu (6). HS (2) 24b (Án 36)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thành Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 834/2023/HS-PT ngày 30/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 834/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh Q, Lương Vủ T và Hoàng Hữu Q1 phạm tội “Giết người”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger