Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 833/2024/HS-PT

Ngày 08 tháng 10 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Điều Văn Hằng.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuyển;

Ông Phạm Văn Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Cảnh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Quang Hưng, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 08 tháng 10 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Điểm cầu thành phần: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 1002/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 140/2024/HS-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

* Bị cáo bị kháng cáo:

Họ và tên: Lê Kiên C; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 06 tháng 7 năm 1997, tại: thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: TDP L, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Kiếm B (đã chết) và Con bà: Lê Thị Đ, sinh năm 1958; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Lê Thị H; sinh năm: 1999; Con: Có 01 con sinh năm 2018; Tiền sự: Không; Tiền án: Năm 2021 bị TAND thị xã Nghi Sơn xử phạt 36 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, ngày 04/01/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/9/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh T. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Kiên C: Luật sư Đinh Đức D, Văn phòng L1, Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 09/7/2023, Lê Tiến D1, sinh năm 1993, trú tại Tổ dân phố (TDP) L, phường (P). Tĩnh H1, thị xã (TX). Nghi Sơn đến quán cà phê “Trường Nhái” ở TDP T, P. H, TX. N lấy áo chống nắng để quên lúc sáng. Tại đây D1 gặp Nguyễn Văn L, sinh năm 1987, trú tại TDP T, P. H, TX. N đang ngồi uống cà phê xem bóng đá. Sau đó giữa D1 và anh L nảy sinh mâu thuẫn, dùng tay chân đánh nhau, D1 gọi điện về cho vợ là Phùng Thị T biết việc bị L đánh. Lúc này chị T đang ở nhà cùng với Lê Kiên C, trú tại TDP L, P. T, TX. N (C là em trai D1) cùng với hai người bạn của C tên là Lê Văn S, sinh năm 1998 và Lê Văn M, sinh năm 1992, đều trú tại P.T, TX. N. Sau khi D1 gọi điện cho T, C nghe được nội dung sự việc nên vào bếp lấy 02 con dao chặt thịt rồi đi xe máy đến tìm anh L.

Về phía anh L, sau khi xô xát với D1 tại quán cà phê, anh L đi về nhà. Khoảng 21 giờ 17 phút, anh L đang đứng ngoài đường, trước nhà mình cùng với ông Nguyễn Quốc H2 (bố L), chị Lưu Thị G (vợ L) và anh Nguyễn Văn Đ1 (em trai L) thì C đi xe máy đến, tay cầm dao, anh L sợ nên bỏ chạy vào ngõ. Anh L đứng nấp bên nhà khoảng 03 phút, C cầm 02 con dao đứng phía ngoài liên tục gọi và chửi bới anh L, sợ C đánh người nhà nên anh L lao ra. Khi giáp mặt nhau, C vung tay trái chém 01 phát trúng mặt anh L (kéo từ trán xuống mũi), anh L đạp C để bỏ chạy thì bị C vung dao tay phải chém tiếp một phát vào má làm rách đến mép môi bên trái. Anh L chạy vào quán của gia đình gần đó lấy 01 đoạn gậy gỗ gắn đinh ra đánh trúng tay C 01 cái rồi bỏ chạy vào ngõ, C đuổi theo nhưng không được. Sau đó, Lê Tiến D1 (anh trai C) cùng với Lê Văn S và Lê Văn M đến căn ngăn rồi cùng với C ra về. Anh L được đưa đi Bệnh viện cấp cứu và điều trị.

Quá trình làm việc với Cơ quan CSĐT Công an thị xã N, Lê Tiến D1 khai báo, trong quá trình xô xát với L tại quán cà phê “Trường Nhái”, D1 bị mất số tiền 09 triệu đồng và bị L Cướp giật chiếc điện thoại di động.

* Hiện trường vụ án:

Hiện trường nơi xảy ra vụ án là tại đoạn đường G, thuộc TDP T, P. H, TX. N; khu vực trước cửa hàng buôn bán xe máy Lâm Đồng, phía trước nhà ở của gia đình ông Nguyễn Quốc H2. Lực lượng chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, ghi nhận và thu giữ các dấu vết, vật chứng theo quy định (BL: 58-72).

* Thương tích và các kết quả giám định:

1. Thương tích và kết quả giám định đối với Lê Kiên C:

Theo Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Lê Kiên C (BL: 209) ghi nhận: Mặt dưới cẳng tay trái giáp khuỷu tay trái có vết thương rách da, KT (0,5 x 0,5)cm. Sau khi bị thương, C về nhà và tự điều trị, không khám, điều trị tại cơ sở y tế nào.

Tại bản Kết luận giám định số 1467/KLTTCT-PYTH ngày 18/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T (BL: 217, 218) kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Kiên C tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm).

Tại bản Kết luận giám định vật gây thương tích số 1467/KLVGTT-PYTH ngày 21/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T (BL: 220, 221) kết luận: Mặt dưới cẳng tay trái giáp khuỷu tay trái có vết thương rách da: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn..

2. Thương tích và kết quả giám định đối với Nguyễn Văn L:

Theo Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của anh Nguyễn Văn L (BL: 139) ghi nhận: 01 vết thương tại vị trí vùng trán trái KT (0,3 x 4) cm, bờ mép sắc gọn, chiều hướng dọc; 01 vết thương tại mép miệng má trái, dài 08 cm, bờ mép sắc gọn; 01 vết thương từ vị trí cánh mũi trái xuống nhân trung dài 2,5 cm, bờ mép sắc gọn.

Tại bản Kết luận giám định số 1418/KLTTCT-PYTH ngày 14/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T (BL: 197-199) kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn L tại thời điểm giám định là: 24% (Hai mươi tư phần trăm).

Tại bản Kết luận giám định vật gây thương tích số 1419/KLVGTT-PYTH ngày 15/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T (BL: 200-202) kết luận:

  • + Vết thương tại vị trí vùng trán trái, bờ mép sắc gọn: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm và vỡ xương trán trái; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ngang mức trán đầu trên trong cung lông mày trái và hình ảnh vỡ xương trán trái, đường kính lớn nhất đường vỡ 2 cm, kèm theo dị vật cản quang vị trí đường vỡ xương trán trái.
  • + Vết thương tại vị trí mép miệng má trái, bờ mép sắc gọn: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ngang mức miệng má trái.
  • + Vết thương tại vị trí cánh mũi trái xuống nhân, bờ mép sắc gọn: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gậy tổn thương rách da, cơ, mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ngang mức dọc cánh mũi trái và nhân trung môi trên.
  • + Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.
  • + Các vết thương trên cơ thể anh Nguyễn Văn L như đã ghi nhận trong hồ sơ giám định do Cơ quan trưng cầu cung cấp, nếu không được cấp cứu và điều trị kịp thời: Có thể dẫn đến tử vong.

* Kết quả giám định AND:

Tại bản Kết luận giám định số 3263/KL-KTHS ngày 15/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T (BL: 109, 110), giám định ADN: Mẫu ký hiệu M1 gửi đến giám định có tế bào của một người nam giới, trùng với ADN của Nguyễn Văn L.

Các mẫu ký hiệu M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8 và M9 gửi đến giám định đều có tế bào người, do lượng tế bào ít và lẫn nên không xác định được kiểu gen.

* Kết quả giám đinh trích xuất Video:

Tại bản Kết luận giám định điện tử số 3366/KL-KTHS ngày 25/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T (BL: 122) kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 (một) tệp video của 01 (một) USB gửi giám định. Trích xuất mô tả một số hình ảnh trong các tệp video gửi giám định.

* Trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Văn L đề nghị Lê Kiên C phải bồi thường dân sự với tổng số tiền là 400.000.000 đồng. Tuy nhiên, hai bên vẫn chưa thống nhất được việc bồi thường dân sự. Bị cáo Lê Kiên C chưa bồi thường dân sự cho bị hại Nguyễn Văn L.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 140/2024/HS-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 3 Điều 57, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Kiên C phạm tội “Giết người”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Kiên C 09 (chín) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam: 28/9/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 31/7/2024, bị hại anh Nguyễn Văn L kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Văn L là bị hại chỉ kháng cáo đề nghị xử tăng mức hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo C thừa nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã nêu và xin lỗi gia đình bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và kháng cáo của anh Nguyễn Văn L. Sau khi phân tích, đánh giá hành vi của bị cáo C, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thấy có đủ căn cứ xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Kiên C phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, không oan. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 năm tù về tội “Giết người” là chưa nghiêm; về phần trách nhiệm dân sự tại phiên tòa bị hại xác nhận là không kháng cáo. Do đó, có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại tăng hình phạt đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm tăng hình hình phạt bị cáo thêm từ 09 đến 12 tháng tù.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Giết người” là chính xác. Mức hình phạt và mức bồi thường cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp. Đề nghị HĐXX bác kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát không tranh luận lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên, luật sư bào chữa cho bị cáo.

[1]. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo khai nhận thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Tối ngày 09/7/2023, mặc dù không có mâu thuẫn gì với anh Nguyễn Văn L, chỉ vì mâu thuẫn trước đó giữa anh Lê Tiến D1 (anh trai của Lê Kiên C) với anh L mà Lê Kiên C đã dùng 02 con dao chặt thịt (hung khí nguy hiểm) chém 02 nhát vào vùng mặt anh Nguyễn Văn L (vùng trọng yếu trên cơ thể) gây nên các vết thương ở vùng trán, rách mũi, rách miệng, hậu quả anh L bị tổn hại 24% (Hai mươi bốn phần trăm) sức khoẻ. Hành vi của Lê Kiên C là đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe anh L. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc dùng hung khí chém vùng mặt, là vùng trọng yếu trên cơ thể có thể dẫn đến chết người nhưng vẫn cố ý thực hiện, để mặc hậu quả xảy ra, việc anh L không chết là do được cấp cứu và chữa trị kịp thời và nằm ngoài ý muốn của bị cáo. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo của bị hại anh Nguyễn Văn L:

Trong vụ án này bị cáo C không có mâu thuẫn gì với bị hại, song vì bực tức do bị hại đánh nhau với anh trai của mình nên đã dùng dao chém 02 nhát vào vùng mặt của bị hại. Hành vi của bị cáo C thể hiện tính côn đồ, hung hãn coi thường pháp luật và tính mạng người khác. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi của mình. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Do đó, bị cáo C được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Mặc dù, bị cáo phạm tội chưa đạt, hậu quả bị hại không chết, bị hại thương tích là 24%. Tuy nhiên,với tính chất hành vi phạm tội đặc biệt nguy hiểm, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Lê Kiên C 09 năm tù về tội “Giết người” là chưa nghiêm. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt của bị hại nhằm đảm bảo tính nghiêm minh, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị hại về tăng hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ.

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị hại về tăng hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự bị hại không kháng cáo.

Về án phí: Bị hại, bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị hại và sửa bản án sơ thẩm;

    Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Kiên C 10 (mười) năm tù về tội “Giết người”; Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam: Ngày 28/9/2023.

  2. Về án phí: Bị cáo, bị hại không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

    Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - TTG - Công an tỉnh Thanh Hóa
  • - Bị cáo (qua TTG);
  • - Bị hại (theo đ/c);
  • - Lưu HS, P.HC-TP TANDCC tại Hà Nội.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Điều Văn Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 833/2024/HS-PT ngày 08/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự (giết người)

  • Số bản án: 833/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger