TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 833/2024/DS-ST Ngày: 24-9-2024 V/v: tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hương Giang
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Quang Cảnh
- Ông Lê Ngọc Thanh
- - Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Dân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự, thụ lý số 407/2024/DSST ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 984/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1324/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S
- Bị đơn: Bà Trương Hoàng Kim N, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ trụ sở: 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đức T, sinh năm 1984 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: B Y, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 5 năm 2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ngân hàng Thương mại cổ phần S có ông Trần Đức T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 11/10/2019, bà Trương Hoàng Kim N có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 29.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.766%/ tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Trương Hoàng Kim N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 542.160.816 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà N đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 518.751.134 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Trương Hoàng Kim N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/5/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 34.962.326 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).
Tính đến ngày 24/9/2024, bà Trương Hoàng Kim N còn nợ các khoản sau (chi tiết lãi quá hạn, dư nợ trong sao kê tóm tắt đính kèm): Nợ gốc: 34.962.326 đồng; lãi quá hạn : 23.741.323 đồng. Tổng cộng: 58.703.649 đồng.
Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 34.962.326 đồng với lãi suất quá hạn là 4.149%/ tháng (2.766%* 150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.
Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Trương Hoàng Kim N phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 24/9/2024 là 58.703.649 đồng trong đó: nợ gốc: 34.962.326 đồng; lãi quá hạn : 23.741.323 đồng
Và bà N có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 25/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn bà Trương Hoàng Kim N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng bà N đều vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo qui định nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.
Tại phiên tòa:
- - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Đức T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- - Bị đơn bà Trương Hoàng Kim N vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
- + Về việc giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ đơn khởi kiện ngày 06 tháng 5 năm 2024 cùng các tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng. Căn cứ kết quả xác minh của công an phường T, quận T thể hiện bà Trương Hoàng Kim N có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ B Y, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện không thực tế cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ. Do bà N có nơi cư trú cuối cùng tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn do ông Trần Đức T đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Trương Hoàng Kim N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 171, Điều 177, Điều 179, Điều 196, Điều 208, Điều 220, Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bà N đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo quy định. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3]. Về yêu cầu của đương sự:
Bị đơn bà Trương Hoàng Kim N không có mặt tại Tòa án để trình bày lời khai và cung cấp chứng cứ cũng như vắng mặt tại phiên tòa hôm nay mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu, chứng cứ, tài liệu của nguyên đơn nộp và Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, để xem xét giải quyết.
[3.1] Về hình thức và nội dung hợp đồng tín dụng:
Xét, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ký ngày 11 tháng 10 năm 2019 giữa ngân hàng và bà Trương Hoàng Kim N; lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: hai bên có xác lập hợp đồng theo mẫu chung do ngân hàng dự thảo, theo quy định tại Điều 405 Bộ luật Dân sự 2015, việc hai bên ký hợp đồng theo đúng trình tự, thủ tục quy định, đồng thời bị đơn bà N đã thực hiện thanh toán một số kỳ của hợp đồng (theo bảng tóm tắt sao kê ngày 24/12/2023 do nguyên đơn lập và nộp kèm hồ sơ khởi kiện) nên Hội đồng xét xử xét, hình thức và nội dung bản hợp đồng này được giao kết và thực hiện là hoàn toàn tự nguyện, hình thức hợp đồng và nội dung thỏa thuận phù hợp và không trái quy định pháp luật, có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại các Điều 385, Điều 398, Điều 405, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng.
Trong vụ án này, bị đơn bà Trương Hoàng Kim N không có yêu cầu phản tố.
[3.2] Về thực hiện hợp đồng và nghĩa vụ thanh toán:
Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ theo đơn khởi kiện; Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11 tháng 10 năm 2019; Thông báo khởi kiện ngày 07/09/2023; Bảng tóm tắt sao kê ngày 24/12/2023 do nguyên đơn lập, xác định trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Điều 2 và Điều 23 bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ký ngày 11 tháng 10 năm 2019 nên nay nguyên đơn yêu cầu bà N thanh toán nợ gốc và lãi tính đến ngày 24/9/2024 là 58.703.649 đồng (trong đó nợ gốc: 34.962.326 đồng; lãi quá hạn: 23.741.323 đồng) là có căn cứ, phù hợp quy định tại các Điều 351, Điều 357, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà N mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa trình bày ý kiến, cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh đã thanh toán nợ cho Ngân hàng. Việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà N thanh toán số nợ trên là có cơ sở, đúng pháp luật, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N1 về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Do vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3.3]. Về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy: yêu cầu của nguyên đơn về khoản tiền lãi chậm trả phát sinh kể từ ngày 25/9/2024 theo mức lãi suất do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng là phù hợp nên chấp nhận.
[3.4]. Về thời hạn thanh toán: Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ trên nên nguyên đơn yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Trương Hoàng Kim N có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tính đến ngày 24/9/2024 là 58.703.649 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng kể từ ngày 25/9/2024 cho đến khi thanh toán xong số nợ. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Trương Hoàng Kim N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP S.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 267, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng:
- - Điều 351, Điều 357, Điều 385, Điều 398, Điều 405, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- - Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N1 về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ngân hàng Thương mại cổ phần S.
- - Bà Trương Hoàng Kim N có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền còn thiếu của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng ký ngày 11 tháng 10 năm 2019 là 58.703.649 đồng (trong đó nợ gốc: 34.962.326 đồng; lãi quá hạn: 23.741.323 đồng)
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Trương Hoàng Kim N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng ký ngày 11 tháng 10 năm 2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ trên.
- Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Thời hạn và phương thức thanh toán: Một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Trương Hoàng Kim N phải nộp số tiền án phí là 2.935.182 đồng
- Hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí 1.135.164 đồng cho ngân hàng Thương mại cổ phần S theo biên lai thu số 0008203 ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
- Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
- Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hương Giang |
Bản án số 833/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Số bản án: 833/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
