Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 833/2024/HS-PT

Ngày 13 – 9 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mười

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh

Ông Ngô Đức Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông – Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, xét xử trực tuyến điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 647/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Trung T, Xe T2 do có kháng cáo của bà Lữ Thị P là người đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Các bị cáo bị kháng cáo:

  1. Nguyễn Trung T, sinh ngày 18 tháng 02 năm 1991 tại Gia Lai; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số F, đường P, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định; Chổ ở hiện nay: số E, hẻm F, đường V, Khóm G, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công Q và bà Phạm Thị Ánh H; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14 tháng 8 năm 2023 cho đến nay (có mặt).
  2. Xe T2, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1982 tại tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: số B, ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Xe T1 và bà Trần Thị X; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14 tháng 8 năm 2023 cho đến nay (có mặt).

- Người bào chữa theo chỉ định cho các bị cáo: Luật sư Đoàn Trọng N thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

- Bị hại: Anh Nguyễn Tứ V, (chết ngày 13 tháng 8 năm 2023);

Người đại diện hợp pháp của bị hại (có kháng cáo): Bà Lữ Thị P, sinh năm 1961; Địa chỉ: Số G, đường N, Khóm E, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu là người đại diện theo pháp luật của bị hại đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Kim M, sinh năm 1989 (là đại diện theo pháp luật của hai cháu Nguyễn Kim A, sinh ngày 31 tháng 01 năm 2014 và cháu Nguyễn Tứ K, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2017 là con ruột của bị hại), (có mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện hợp pháp bị hại: Luật sư Nguyễn Duy S thuộc Công ty L, Đoàn Luật sư tỉnh B (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Phiên tòa phúc thẩm trực tuyến được tiến hành ở hai điểm cầu. Điểm cầu trung tâm là Phòng xử án của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm có: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát và Luật sư Đoàn Trọng N; Đ cầu thành phần là Phòng xử án tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu gồm có: Các bị cáo Nguyễn Trung T, Xe T2; Bà Lữ Thị P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 13 tháng 8 năm 2023, sau khi đến quán P1, đường V thuộc Khóm E, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Trạng liên hệ qua điện thoại hỏi mượn dao (hung khí là vật chứng của vụ án) của bị cáo T2. Nghi ngờ, bị cáo T đánh nhau với người khác nên bị cáo T2 đồng ý và mang đến quán đưa cho bị cáo T giấu trong túi quần.

Tại quán P1 trong lúc uống bia đã xảy ra mâu thuẫn cự cãi và xô đẩy lẫn nhau, nên bị hại dùng ly thủy tinh đánh trúng mi mắt phải của bị cáo Trạng làm bị cáo Trạng ngã ngữa xuống nền gạch.

Bị cáo Trạng đứng dậy, quay lại bàn hỏi chuyện Thạch Q1 và bị hại lý do đánh bị cáo Trạng thì bị hại tiếp tục xong đến định đánh bị cáo Trạng; liền lúc này, bị cáo T lấy dao, loại dao bấm dài 13,5cm, có mũi nhọn, lưỡi dài 11cm chuẩn bị trong túi quần, tay phải cầm dao đâm từ trên xuống trúng vùng ngực phải của bị hại một nhát, bị hại truy hô đã bị đâm nên được người dân địa phương đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu nhưng tử vong.

Kết luận giám định tử thi số 28/KLGĐTT-PC09, ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B: nguyên nhân bị hại Nguyễn Tứ V chết do vết thương thấu ngực phải gây sốc mất máu.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 188/KLTTCT-TTPY, ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B: bị cáo Nguyễn Trung T 01 sẹo ở mi mắt phải; tỷ lệ 03%. Bị cáo không yêu cầu khởi tố vụ án đối với thương tích 3%.

Kết luận giám định số 5714/KL-KTHS, ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Phân viện KHHS tại Thành Phố Hồ Chí Minh: Chất màu nâu đỏ dính trên dao bấm là máu người, mẫu máu này là máu của Nguyễn Tứ V1.

Tại Cáo trạng số 08/CT-VKS-P1 ngày 24 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung T và bị cáo Xe T2 về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. .

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã tuyên xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T và bị cáo Xe T2 phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng Khoản 2 Điều 123; Điều 58; điểm b, e, s khoản 1 và 2 Điều 51; đoạn 3 khoản 1 Điều 38; Điều 17 của Bộ luật Hình sự: đối với bị cáo Nguyễn Trung T.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 8 năm 2023.

- Khoản 2 Điều 123; Điều 58; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; đoạn 3 khoản 1 Điều 38; Điều 17 của Bộ luật Hình sự: đối với bị cáo Xe T2.

Xử phạt bị cáo Xe T2 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 8 năm 2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm,

Ngày 21/6/2024, bà Lữ Thị P là người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Mức án đối với các bị cáo là chưa thực sự nghiêm minh, đề nghị tăng hình phạt đối với các bị cáo và xem xét tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bà Lữ Thị P là người đại diện hợp pháp của bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với các bị cáo và xem xét tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ.

Các bị cáo Nguyễn Trung T, Xe T2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng:

- Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ theo qui định của Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định.

- Về nội dung: Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phân tích về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của tất cả các bị cáo và xét yêu cầu kháng cáo của Người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Lữ Thị P, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Người đại diện hợp pháp của bị hại. Giữ nguyên quyết định bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

Người bào chữa cho các bị cáo cho rằng, tòa án cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ; xuất phát một phần từ lỗi của bị hại dùng hung khí đánh bị cáo nên bị cáo mới thực hiện hành vi phạm tội. Người đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo là không có căn cứ, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Người đại diện hợp pháp của bị hại bà Lữ Thị P, trong hạn luật định và hợp lệ được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội: Các bị cáo Nguyễn Trung T, Xe T2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung của Bản cáo trạng đã truy tố và bản án sơ thẩm đã quy kết, trình bày của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo Nguyễn Trung T, Xe T2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận kháng cáo của bà Lữ Thị P; Giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm.

[3] Về nội dung yêu cầu kháng cáo của Người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Lữ Thị P, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Bị cáo Nguyễn Trung T thừa nhận vào ngày 13 tháng 8 năm 2023, bị cáo T dùng dao bấm, cán kim loại màu vàng đồng - xanh dài 13,5cm, lưỡi kim loại màu trắng đen, một bề bén, một bề tù, mũi nhọn dài 11cm đâm trúng vào vùng ngực bên phải của bị hại Nguyễn Tứ V, dẫn đến bị hại bị thấu ngực phải gây sốc mất máu dẫn đến tử vong.

Hành vi phạm tội của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tính mạng, sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Giết người” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

[3.2] Đối với bị cáo Xe T2, khi cho bị cáo Trạng mượn cây dao thì bị cáo đã nhận thức là để cho bị cáo T dùng trong việc đánh nhau với người khác; thực tế khi xảy ra mâu thuẫn với bị hại thì bị cáo T đã dùng cây dao do bị cáo T2 đưa đâm chết bị hại. Như vậy, bị cáo T2 phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức, tạo điều kiện cho bị cáo Trạng thực hiện tội phạm nên bị cáo cũng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

[3.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Các bị cáo Nguyễn Trung T, Xe T2 có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại; các bị cáo đầu thú để hưởng sự khoan hồng của pháp luật là những tình tiết được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Trong vụ án, người bị hại cũng có một phần lỗi lớn, nên bị cáo T “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3.4] Xét yêu cầu kháng cáo của Người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Lữ Thị P thấy rằng, Như đã phân tích ở các mục [3.1], [3.2], [3.3] nêu trên về tội danh cấp sơ thẩm đã xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về phần hình phạt, tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo để áp dụng. Bị cáo T phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra nên không thuộc trường hợp phạm tội có tính chất côn như kháng cáo của Người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Lữ Thị P.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trung T rất nguy hiểm nên việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt 09 tù đối bị cáo T là có phần nhẹ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo về phần này, tăng hình phạt đối với bị cáo T. Đối với kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt bị cáo Xe T2 án sơ thẩm xử là có căn cứ, do đó cần được giữ nguyên.

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của Người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Lữ Thị P tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Trung T, sửa một phần quyết định bản án sơ thẩm, về tăng hình phạt của bị cáo Nguyễn Trung T.

[5] Về án phí phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Lữ Thị P; Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu về trách nhiệm hình sự tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Trung T.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T và bị cáo Xe T2 phạm tội “Giết người”.
    1. Áp dụng Khoản 2 Điều 123; Điều 58; điểm b, e, s khoản 1 và 2 Điều 51; đoạn 3 khoản 1 Điều 38; Điều 17 của Bộ luật Hình sự: đối với bị cáo Nguyễn Trung T.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 8 năm 2023.

    2. Áp dụng Khoản 2 Điều 123; Điều 58; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; đoạn 3 khoản 1 Điều 38; Điều 17 của Bộ luật Hình sự: đối với bị cáo Xe T2.

      Xử phạt bị cáo Xe T2 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 8 năm 2023

Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Trung T, bị cáo Xe T2 để đảm bảo thi hành án.

  1. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
  2. Bản án Hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Công an tỉnh Bạc Liêu;
  • - Trại tạm giam CA Bạc Liêu;
  • - Cục THADS tỉnh Bạc Liêu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP; HSVA; NTV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Văn Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 833/2024/HS-PT ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 833/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa 1 phần bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger