|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 832/2024/HS - PT
Ngày: 17-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Năng Thành
Các Thẩm phán: ông Hoàng Nhật Tân, bà Chử Phương Ngọc
Thư ký phiên toà: ông Đỗ Duy Trung- Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Trần Thúy Bình- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 729/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo Ngô Văn Việt A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS- ST ngày 12 tháng 07 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội.
* Bị cáo kháng cáo: Ngô Văn Việt A; sinh năm 2001, tại Hà Nội; nơi cư trú: thôn H, xã L, H, Hà Nội; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Ngô Văn T và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Bàn Thị Thanh T1 (sinh năm 2003), chưa có con; chưa có tiền án, tiền sự; đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện H; có mặt.
* Ngoài ra, còn bị cáo Nguyễn Văn Á: không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 08/3/2022, tổ công tác của Công an xã A tiến hành kiểm tra hành chính tại căn hộ H Chung cư G (đường L, xã A, H, Hà Nội), phát hiện 11 đối tượng gồm: Nguyễn Văn T2, Dương Thu H, Nguyễn Phan Đ, Nguyễn Văn T3, Tạ Công T4, Nguyễn Công Q, Tạ Duy T5, Ngô Văn Việt A, Bàn Thị Thanh T1, Nguyễn Thị T6 và Nguyễn Thị T7 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tổ công tác của Công an phát hiện và thu giữ trên mặt bàn trong phòng khách: 01 hộp giấy loại hộp thuốc nhỏ mắt bên ngoài có chữ Natri clorid 0,9% bên trong hộp giấy có 02 mảnh viên nén màu vàng cam nghi là ma túy; 01 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 10.000 đồng được cuốn thành hình ống hút; 01 thùng nhựa hình trụ đường kính khoảng 20cm, cao 30cm bên trong có 05 mảnh thủy tinh; 01 loa màu đen nhãn hiệu Horman/Handon; 01 đèn chiếu sáng có kích thước (45x25)cm ký hiệu Made in China; và 01 lò vi sóng màu trắng, kích thước (45x25)cm, nhãn hiệu Matika, moden 9220, đã qua sử dụng.
Ngoài ra, tổ công tác của Công an còn thu giữ: 01 điện thoại di động Iphone 7, 32G màu đen (của Nguyễn Văn T2); 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, 64G màu trắng (của Dương Thu H); 01 điện thoại di động Iphone X, 64G màu trắng (của Nguyễn Phan Đ); 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro, 128G màu trắng (của Tạ Công T4); 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, 64G màu xanh đen (của Nguyễn Công Q); 01 điện thoại di động Nokia 5511 màu bạc, 01 điện thoại di động Iphone 6S màu hồng (của Tạ Duy T5); và 01 điện thoại di động Iphone XS Max, 64G màu vàng, của Ngô Văn Việt A.
Tại Kết luận giám định số 1599 ngày 16/3/2022, Phòng K- Công an Thành phố H kết luận (bút lục 67): 02 mảnh viên nén màu vàng cam bên trong 01 hộp giấy loại hộp thuốc nhỏ mắt bên ngoài có chữ Natri Clorid 0,9% đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 0,643 gam; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 05 mảnh thủy tinh đều có dính ma túy loại Ketamine.
Quá trình điều tra xác định: Ngày 05/3/2022, tại quán Internet ở thôn T (xã L, H, Hà Nội), Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Công Q, Nguyễn Văn Á, Tạ Duy T5, Tạ Công T4, Nguyễn Phan Đ, Dương Thu H đã bàn bạc và hẹn nhau sẽ tổ chức đi B vào ngày 08/3/2022. Chiều ngày 07/3/2022, T3, Q, T2, T4, Đ và T5 cùng chơi ở quán Internet nêu trên thì T3 khởi xướng tối nay đi B chơi, mọi người nghe và đồng ý; các đối tượng đều hiểu là sẽ lên B để uống rượu và sử dụng ma túy, hẹn gặp khoảng 21 giờ 30 phút tại quán Bar A2, tại đường N, phường M, N, Hà Nội.
Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, T3 bắt xe taxi đi từ nhà đi đến Bar A; trên đường đi, T3 gọi điện thoại cho T4, nói đi trước và bảo T4 đi sau cùng mọi người. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, T5, Á, T7 cùng đến B; Á cầm ma túy tổng hợp dạng kẹo, đưa cho T5 và T3, mỗi người 01 viên, số ma túy còn lại Ánh để trên bàn cho mọi người đến thì sử dụng; T4 gọi điện thoại, bảo Q đến Bar A và Q đồng ý. Cả nhóm ngồi chung 01 bàn do T5 đã đặt sẵn; Q, T4, Đ, T2 và H đến sau, nhìn thấy ma túy dạng kẹo trên bàn nên đã tự lấy mỗi đối tượng nửa viên để sử dụng.
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 08/3/2022, Q bắt xe taxi đi về Chung cư S; tại quán BaA2, T4 đưa cho T3 là 9.000.000 đồng, Đ đưa T3 là 3.000.000 đồng, T3 thanh toán tiền tại quán Bar hết 8.100.000 đồng và chưa tính tiền ma túy của Á. T2 hỏi và gợi ý “về chung cư chơi tiếp không”, ý là tiếp tục sử dụng ma túy thì cả nhóm đồng ý. Khi chuẩn bị bắt taxi, T2 nói với T3 là về chung cư G, các đối tượng đều hiểu là về chung cư để tiếp tục sử dụng ma túy.
Sau đó, T2 gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thị Ngọc Á1 (sinh năm 2000) để mượn căn hộ 816B Chung cư G; Ngọc Á1 đồng ý, không khóa cửa và dời đi để T2 về sử dụng. Văn Ánh mang theo loa và đèn chớp laser đến; H kết nối điện thoại với loa để mở nhạc; Văn Ánh bật đèn, bóc trong gói băng dính đen ra 01 túi nilon chứa ma túy loại Ketamine, để ra bàn và nói “Cứ chơi đi, mai có gì tính sau”; Văn Á đưa cho H 01 thẻ ATM màu xám rồi dời đi; H làm nóng đĩa thủy tinh trong lò vi sóng, mang ra bàn uống nước, đổ túi ma túy Ketamine ra đĩa, dùng thẻ ATM để “xào ke”, dùng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng cuộn thành hình dạng ống hút rồi sử dụng ma túy trên đĩa bằng hình thức hít ma túy. Khi T3 về gần đến nhà thì Đ có nhắn tin bảo quay lại chung cư nên khoảng 15 phút sau, T3 đi taxi đến; H, Đ và T2 cùng sử dụng ma túy tại phòng khách; sau đó, T2 bê đĩa có chứa ma túy vào trong phòng ngủ để T5, T3 và T4 cùng sử dụng.
Khoảng 03 giờ 10 phút cùng ngày 08/3/2022, T3 gọi điện qua ứng dụng M cho Q, bảo “sang đây”, Q hiểu là sang để sử dụng ma túy nên đã rủ T6 đi cùng và không nói cho T6 biết là đi sử dụng ma túy; khoảng 05 giờ thì Q và T6 đến, mỗi đối tượng sử dụng “02 đường ke” trong phòng ngủ.
Cũng khoảng 05 giờ cùng ngày, Việt A gọi Face T8 cho Tạ Duy T5, nhìn thấy phòng tối nhưng có đèn chớp và có tiếng nhạc nên biết là T5 đang sử dụng ma túy; Việt A hỏi đang chơi ở đâu thì T5 trả lời đang ở chung cư G; Việt A rủ T1 đi cùng nhưng không nói là đi để sử dụng ma túy. Khi đến nơi, thấy trên bàn tại phòng khách có 2,5 viên ma túy dạng kẹo màu vàng cam nên Việt A bẻ 01 viên ra làm đôi để Việt A và T1, mỗi đối tượng sử dụng nửa viên và dùng thêm “02 đường ke”. Sau đó, Việt A lấy đĩa có chứa ma túy “ke” để Việt A và T1 vào phòng ngủ và cùng sử dụng.
Quá trình sử dụng, chiếc đĩa thủy tinh bị vỡ nên T2 đã cầm và ném vào thùng rác; T5 cầm loa để lên trên nóc tủ bếp; khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, lực lượng công an xã A đến kiểm tra, phát hiện và bắt giữ.
Các đối tượng Nguyễn Văn Á, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Công Q, Tạ Công T4, Nguyễn Phan Đ, Ngô Văn Việt A và Tạ Duy T5 là người cùng xã L, quen biết nhau nên khi rủ nhau đi B để sử dụng ma túy, các đối tượng đều hiểu trong quá trình sử dụng ai có tiền thì ứng ra trước, sau đó sẽ chia đều cho tất cả những đối tượng là nam giới cùng tham gia sử dụng ma túy.
Qua xét nghiệm chất ma tuý trong nước tiểu của các đối tượng Nguyễn Phan Đ, Tạ Duy T5, Nguyễn Văn T2, Tạ Công T4, Nguyễn Văn T3, Ngô Văn Việt A, Nguyễn Công Q, Bàn Thị Thanh T1, Nguyễn Thị T6 và Dương Thu H, đều có kết quả dương tính với chất ma túy MDMA và Methamphetamine; các đối tượng khai nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hộ H, chung cư G ngày 08/3/2022. Đối tượng Nguyễn Thị T7 khai nhận không sử dụng ma túy; xét nghiệm chất ma tuý trong nước tiểu của T7 cho kết quả âm tính với chất ma túy.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2023/HS- ST ngày 27/7/2023, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội đã xét xử vụ án và xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn T2, Dương Thu H và Nguyễn Công Q, mỗi bị cáo 07 năm, 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Tạ Duy T5 07 năm, 03 tháng tù; xử phạt các bị cáo Tạ Công T4, Nguyễn Phan Đ và Nguyễn Văn T3, mỗi bị cáo 07 năm tù; đều về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 866/2023/HS- PT ngày 28/9/2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Phan Đ và Nguyễn Văn T3, sửa Bản án sơ thẩm, xử phạt các bị cáo Nguyễn Phan Đ và Nguyễn Văn T3, mỗi bị cáo 06 năm, 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Do Ngô Văn Việt A và Nguyễn Văn Á bỏ trốn nên ngày 08/02/2023, Cơ quan điều tra đã ra các Quyết định Truy nã, Tạm đình chỉ điều tra bị can và Tách hồ sơ liên quan đến các bị can Nguyễn Văn Việt A1 và Ngô Văn A. Ngày 07/10/2023, Nguyễn Văn Á bị Công an Thành phố H bắt truy nã khi đang lẩn trốn tại phường Y (thành phố P, tỉnh Gia Lai); ngày 15/3/2024, Ngô Văn Việt A đến Cơ quan điều tra đầu thú, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân và các đồng phạm.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS- ST ngày 12/7/2024 và Thông báo sửa chữa, bổ sung Bản án số 05/TB- TA ngày 20/8/2024, Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Việt A phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Văn V Anh 07 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/3/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Á 08 năm tù, về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; quyết định về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 23/7/2024, bị cáo Ngô Văn Việt A có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phân tích về nội dung vụ án, lập luận và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa Bản án sơ thẩm: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 54 và 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Văn Việt A từ 06 năm đến 06 năm, 03 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Việt A phù hợp quy định tại các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận của bị cáo Ngô Văn Việt A tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm, lời khai của các đồng phạm và người làm chứng, các vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án- Đủ cơ sở kết luận: khoảng 05 giờ ngày 08/3/2022, trong khi gọi điện thoại cho Tạ Duy T5 thì Ngô Văn V Anh biết T5 đang sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hộ H Chung cư G (địa chỉ: khu đô thị H, xã A, H, Hà Nội) nên Việt A rủ Bàn Thị Thanh T1 đi cùng đến căn hộ nêu trên và không nói là sẽ sử dụng chất ma túy; tại hiện trường, Việt A trực tiếp sử dụng chất ma túy rồi thực hiện các hành vi chia nhỏ viên túy và các hành vi khác để hỗ trợ T1 cùng các đối tượng khác sử dụng chất ma túy; đến khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày 08/3/2022 thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng; hành vi của Ngô Văn Việt A đã phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Bản án sơ thẩm đã quy kết bị cáo Ngô Văn V Anh theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Ngô Văn V Anh thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân và các đồng phạm, đúng như quy kết của Bản án sơ thẩm, ăn năn hối cải và đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
[3] Bị cáo Ngô Văn V Anh phạm tội trong đồng phạm giản đơn và không phải là đối tượng chủ mưu, khởi xướng hoặc chỉ huy, phạm tội do bị rủ rê, lôi kéo và tích cực thực hành hành vi phạm tội; bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội” và “đầu thú”, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đã được Bản án sơ thẩm xem xét, áp dụng đối với bị cáo Ngô Văn Việt A.
[4] Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, vai trò tham gia của các bị cáo trong đồng phạm, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo trong vụ án; Bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Ngô Văn V Anh 07 năm tù là có phần nghiêm khắc bởi lẽ: bị cáo Việt A phạm tội do bị rủ rê, lôi kéo và chưa thực tế góp tiền để mua chất ma túy, bị cáo thực hiện tội phạm với thời gian ngắn (từ 05 giờ đến 08 giờ 20 phút cùng ngày 08/3/2022) và có vai trò thấp trong đồng phạm, bị cáo có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Mặc dù không có đủ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng đánh giá toàn diện về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và vai trò tham gia của bị cáo trong đồng phạm, Hội đồng xét xử cân nhắc và áp dụng bổ sung Điều 54 Bộ luật Hình sự, ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội trình bày tại phiên tòa phúc thẩm, chấp nhận kháng cáo, sửa Bản án sơ thẩm và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Ngô Văn Việt A; đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung; thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Kháng cáo được chấp nhận và Cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm nên bị cáo Ngô Văn Việt A không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.
[7] Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH:
- Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2024/HS- ST ngày 12/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội đối với bị cáo Ngô Văn Việt A:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 54 và 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Ngô Văn V Anh 06 (sáu) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/3/2024.
- Bị cáo Ngô Văn Việt A không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn Á và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM NĂNG THÀNH |
Bản án số 832/2024/HS - PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 832/2024/HS - PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Ngô Văn Việt A phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
