|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 832/2024/DS-PT Ngày: 25 - 9 - 2024 V/v: “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, vô hiệu hợp đồng cho mượn nhà ở, đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh
Ông Chung Văn Kết
- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 315/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 05 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, vô hiệu hợp đồng cho mượn nhà ở, đất”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4778/2024/QĐPT ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị M, sinh năm: 1939. Địa chỉ: A D Dr. P. T, Hoa Kỳ. Vắng mặt.
Đại diện hợp pháp: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1978. Địa chỉ: C đường L, tổ A, khu phố A, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Hồ Thị Ngọc T1, sinh năm: 1960. Địa chỉ: Số A Đ, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
Đại diện hợp pháp: Ông Cao Thanh S, sinh năm 1997. Địa chỉ liên lạc: H27 đường A, khu tái định cư A, tổ B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và ông Ngô Đức H, sinh năm 1996. Địa chỉ: Xóm E, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Ông S vắng mặt; ông H có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm: 1957. Địa chỉ: Số C đường L, khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
Đại diện hợp pháp của bà N: Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1966. Địa chỉ: 1 Đ, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
2. Ông Trần Nhất V, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số C đường L, khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
Đại diện theo ủy quyền của bà N, ông V: Ông Vũ Quý T3 (địa chỉ: C đường số F C, khu phố C, phường C, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Có mặt.
- Người kháng cáo: Ông Phạm Văn T – đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Phan Thị M trình bày và yêu cầu như sau: Ngày 01/12/1999, bà M lập Hợp đồng cho bà Hồ Thị Ngọc T1 (con gái bà Phan Thị M) mượn diện tích đất 583m², địa chỉ tại số A Đ, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ (nay là thửa đất số 39, tờ bản đồ số 47 tại số A Đ, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ). Trên đất có ao nuôi cá diện tích 433m² và 1 căn nhà cấp 4 diện tích 4m x 6m = 24m², còn lại là đất là bờ ao). Hợp đồng có thời hạn từ ngày 01/12/1999 đến ngày 01/12/2020. Vào cuối tháng 12 năm 1999, bà đi định cư ở nước ngoài, tại địa chỉ: A Dawn Brook Dr . P. T9 (Hoa Kỳ).
Ngày 19/5/2022, bà M về Việt Nam, khi bà về nhà tại địa chỉ: 1 Đ, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ thì bà T1 đã làm thay đổi hiện trạng ban đầu của thửa đất. Cụ thể bà T1 xây tường gạch bao quanh bít đường vào khu đất diện tích 583m². Bà M được biết bà T1 đã bàn giao tài sản hợp pháp của bà là diện tích đất 583m² cho cơ quan thi hành án để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Bà Phan Thị M khởi kiện yêu cầu buộc bà T1 giao trả lại diện tích đất 583m², thuộc thừa số: 39, tờ bản đồ số: 47, tọa lạc tại: 1 Đ, phường C, quận N, Thành phố Cần Thơ cho bà.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023, bà M khởi kiện bổ sung cụ thể như sau:
- Tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 5500 ngày 26/07/2012 giữa bà Nguyễn Thị Thanh N với ông Trần Nhất V đối với thửa số 39, tờ bản đồ số 47, đất tọa lạc tại phường C, quận N, thành phố Cần Thơ do vô hiệu.
- T4 buộc bà Nguyễn Thị Thanh N chuyển sang tên quyền sử dụng đất với diện tích 583m², thửa số 39, tờ bản đồ số 47, đất tọa lạc tại phường C, quận N, thành phố Cần Thơ sang tên cho bà đứng tên.
* Bị đơn bà Hồ Thị Ngọc T1 có ý kiến như sau: Vào năm 1999, bà Phan Thị M (là mẹ ruột của bà) đi định cư ở nước ngoài (Mỹ). Mẹ bà có cho bà sử dụng diện tích 583m², thuộc thửa đất số 39, tờ bản đồ số 47, tại số A Đ, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ (trong đó có ao nuôi cá diện tích là 433m² và 1 căn nhà cấp 4 diện tích 4m x 6m = 24m², còn lại là đất là bờ ao). Việc bà M cho mượn đất ở và canh tác trên đất có lập Hợp đồng cho mượn nhà ở, đất ở và ao nuôi cá để canh tác đến ngày 01 tháng 12 năm 1999.
Sau đó, bà Nguyễn Thị Thanh N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 062447 ngày 11/01/2016 theo Quyết định số 716/QĐ/UBND ngày 25/3/2008 của UBND thành phố C và Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số 2403/15/12/2008 sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 062447 nên bà T1 đã khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đòi lại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 47 do gia đình bà đang quản lý sử dụng trước năm 1975.
Ngày 28/6/2022, Cục Thi hành án dân sự Thành phố Cần Thơ cưỡng chế thửa đất số 39, tờ bản đồ số 47 giao cho bà Nguyễn Thị Thanh N theo Bản án dân sự phúc thẩm số 72/2022/DSPT ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Vào ngày 26/7/2022, bà Nguyễn Thị Thanh N đã làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 5500 sang tên cho ông Trần Nhất V đối với thửa đất số 39. Do đó, với yêu cầu khởi kiện của bà M thì bà đồng ý nhưng hiện bà không có đất để giao trả cho mẹ bà.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến và yêu cầu như sau:
- Bà Nguyễn Thị Thanh N có ý kiến và yêu cầu độc lập: Bà N không đồng ý các yêu cầu của nguyên đơn và ý kiến của bị đơn. Bà N đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Phan Thị M và bà Hồ Thị Ngọc T1 liên đới giao trả lại cho bà một phần đất có diện tích 150m² thuộc thửa đất số 39, tờ bản đồ số 47, đất tọa lạc tại đường Đ, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ (trước đây thuộc khuôn viên tập thể thương mại quản lý tại số A); Bác đơn khởi kiện của bà Phan Thị M và tuyên bố vô hiệu Hợp đồng cho mượn nhà ở, đất và ao nuôi cá, lập ngày 01 tháng 12 năm 1999 giữa bà Phan Thị M và bà Hồ Thị Ngọc T1.
- Ông Trần Nhất V: Thống nhất với ý kiến và yêu cầu của bà N. Ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến của bị đơn vì mẹ ông được công nhận quyền sử dụng đất theo các quyết định và bản án có hiệu lực pháp luật và đã làm thủ tục tặng cho ông quyền sử dụng đất đúng quy định pháp luật.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 23/02/2024, Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ quyết định:
- Đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị M đối với việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh N cập nhật sang tên quyền sử dụng đất thửa 39, diện tích 583m².
- Không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị M đối với yêu cầu buộc bà Hồ Thị Ngọc T1 giao trả 583m² đất và yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 5500 ngày 26/7/2022 đã ký giữa bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Trần Nhất V.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Thanh N.
- Tuyên bố Hợp đồng cho mượn nhà ở, đất và ao nuôi cá lập ngày 01/12/1999 giữa bà Phan Thị M và bà Hồ Thị Ngọc T1 vô hiệu.
- Buộc bà Hồ Thị Ngọc T1 có nghĩa vụ giao trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh N 150m² đất tại thửa 391, tờ bản đồ số 47 (có vị trí tiếp giáp bên trái phần đất 433m² từ ngoài nhìn vào, theo bản trích đo địa chính số 21/TTKTTNMT ngày 16/4/2018 của Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và Môi trường Thành phố C).
- Bà Nguyễn Thị Thanh N được quyền đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký sử dụng phần đất này theo quy định.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 26/02/2024, ông Phạm Văn T – đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị M có yêu cầu kháng cáo.
- Ngày 07/3/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ ban hành Quyết định số 14/QĐ-VKS-DS ngày 07/3/2024 kháng nghị phúc thẩm Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 23/02/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
* Đại diện ủy quyền của bà Phan Thị M là ông Phan Thanh T5 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án sửa án sơ thẩm, công nhận cho bà M quyền sử dụng toàn bộ 583m² đất, việc bà N được công nhận quyền sử dụng đất là công nhận cho gia tộc, đây là di sản chưa chia của cha mẹ bà M, bà N1. Mẹ bà N là bà N1 cũng có văn bản công nhận quyền sử dụng đất của bà M.
* Đại diện ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Trần Văn V1 đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M và bà T1, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi trong quá trình thụ lý, xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh rút toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ.
- Về nội dung:
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị M đối với yêu cầu buộc bà Hồ Thị Ngọc T1 giao trả 583m² đất: Hợp đồng mượn đất đối với diện tích 583m² ngày 01/12/1999 giữa bà M với bà T1 thể hiện các nội dung không phù hợp với thực tế: Trên hợp đồng ghi lập tại Thành phố Cần Thơ. Tuy nhiên, Thành phố Cần Thơ được thành lập vào ngày 01/01/2004. Tại thời điểm 01/12/1999 vẫn là tỉnh Cần Thơ. Các thông tin về diện tích đất 583m² được tách làm hai phần 433m² và 150m² chỉ xuất hiện sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại của UBND Thành phố C (sau năm 2008). Do vậy, có cơ sở xác định hợp đồng này là giả tạo. Ngoài ra, quyết định giải quyết khiếu nại của UBND Thành phố C đã công nhận cho bà N diện tích đất 583m². Bà N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần diện tích 433m² theo đúng quy định pháp luật. Bà T1 khiếu kiện đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã bị bác yêu cầu khởi kiện tại bản án có hiệu lực pháp luật. Đối với phần diện tích 150m², trước đây gia đình bà N có đặt điều kiện nếu bà T1 không khiếu kiện thì bà N cho phần diện tích đất này nhưng bà T1 không thực hiện đúng điều kiện này, tiếp tục khiếu nại và khởi kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà N nên không đủ điều kiện nhận tặng cho theo thỏa thuận tặng cho có điều kiện. Tại vụ án này, bà T1 mặc dù là bị đơn nhưng thống nhất ý chí với nguyên đơn, tiếp tục tranh chấp quyền sử dụng diện tích 583m² với bà N. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M là có căn cứ, đúng pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 14/QĐ-VKS-DS ngày 07/3/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ.
Do vậy, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị nêu trên theo quy định tại khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đơn kháng cáo của ông Phạm Thanh T6, đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị M làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Ông T6 kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị M, công nhận cho bà M toàn bộ phần diện tích đất 583m², thuộc thửa số: 39, tờ bản đồ số: 47, tọa lạc tại: 1 Đ, phường C, quận N, Thành phố Cần Thơ.
Tại cấp sơ thẩm phía nguyên đơn có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh N thực hiện cập nhật biến động sang tên cho nguyên đơn với diện tích 583m². Tuy nhiên, tại Bản án dân sự phúc thẩm số 72/2022/DS-PT ngày 26/01/2022, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử không chấp nhận yêu cầu của của bà Hồ Thị Ngọc T1 (con bà Phan Thị M) về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH04692 do UBND quận N cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh N. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết yêu cầu này là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Về nội dung: Xét nội dung các yêu cầu kháng cáo khác của nguyên đơn liên quan đến việc công nhận cho phía nguyên đơn quyền sử dụng 583m² tại thửa 39, tờ bản đồ số 47, tại phường C, quận N, Thành phố Cần Thơ:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp tại thửa 39, diện tích 583m² có nguồn gốc của ông Phan Văn Đ. Ông Đ mất để lại cho người con là ông Phan Văn T7, ông Phan Văn T7 có giấy để lại cho con trai và con dâu là ông Phan Văn T8 và bà Trần Thị S1. Năm 1962 (khi ông T8 đã mất), bà S1 và ông Phan Văn K (em ông T8) lập văn bản để lại cho con gái là bà Phan Thị N1 (bà N1 là mẹ bà Nguyễn Thị Thanh N) được toàn quyền sử dụng đất, trọn quyền quản thủ, canh tác, lấy hoa lợi vĩnh viễn để thờ phụng ông bà và đóng thuế cho Chính phủ.
Năm 1996, bà M (chị em bà N1) đi khiếu nại đòi lại phần đất ao nuôi cá 583m² (là phần tranh chấp hiện nay). Ngày 16/12/1996, Chánh Thanh tra tỉnh Cần Thơ (cũ) ban hành Quyết định 151/QĐ.TTr.96 bác đơn khiếu nại của bà M đòi lại đất trên. Không đồng ý với kết quả đó, bà M khiếu nại Quyết định 151/QĐ.TTr.96. Ngày 23/01/1998, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) ban hành Quyết định 166/1998/QĐ.Ct.NC bác đơn khiếu nại của bà M, giao đất trên cho Công ty thương mại tỉnh C tiếp tục thực hiện việc quản lý phần đất ao cá có diện tích 583m². Như vậy, qua quá trình khiếu nại bà M bị cấp có thẩm quyền bác đơn khiếu nại đòi lại ao cá. Các quyết định này cho đến nay không bị thu hồi, hủy bỏ.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà Phan Thị M không phải là chủ sử dụng phần đất này, không có có quyền cho bà T1 mượn phần đất này là có cơ sở. Ngoài ra, các nội dung thể hiện trên hợp đồng mượn đất xác lập giữa bà M và bà T1 ngày 01/12/1999 thể hiện có những tình tiết mang tính chất ngụy tạo, không đúng thực tế. Theo văn bản này thể hiện địa chỉ bà M và bà T1 ở “quận N” nhưng địa danh “quận N” được thành lập theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 02/1/2004 của Chính phủ, sau ngày ký kết hợp đồng mượn đất. Ngoài ra, các thông tin về phần ao cá là 433m², phần chênh lệch 150m² liên quan đến diện tích đất tranh chấp 583m² chưa xuất hiện vào thời điểm lập hợp đồng mượn đất năm 1999 mà chỉ xuất hiện từ ngày 07/7/2014, khi Thanh tra Thành phố Cần Thơ lập biên bản hòa giải giữa hai bên. Trong đó, bà N đồng ý giao có điều kiện cho bà T1 diện tích 150 m², trong tổng số 533 m². Trên cơ sở đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn về việc công nhận hợp đồng cho mượn đất này.
Bà Nguyễn Thị Thanh N được ủy quyền của mẹ là bà Phan Thị N1 đã khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền để xin hợp thức hóa phần đất này. Tại các Quyết định số 3362/QĐ.CT.UB ngày 22/9/2004 và Quyết định số 3165/QĐ-CT.UB ngày 28/3/2005 của Chủ tịch UBND quận N và Quyết định số 2567/QĐ.CT-UB ngày 26/7/2005, Chủ tịch UBND Thành phố C không chấp nhận khiếu nại của bà N. Tuy nhiên, tại Kết luận Thanh tra số 1405/KL-TTCP ngày 26/7/2006 của Thanh tra Chính phủ đã chấp nhận khiếu nại của bà N. Trên cơ sở kết luận của Thanh tra Chính phủ, ngày 25/3/2008, UBND Thành phố C ban hành Quyết định 716/QĐ-UBND thu hồi và hủy bỏ các quyết định số 3362, 3165 và 2567 nêu trên, đồng thời chấp thuận cho gia đình bà N được đăng ký quyền sử dụng đất 583m². Quá trình giải quyết khiếu nại, UBND Thành phố C cũng xác định bà Phan Thị N1 là chủ hợp pháp sở đất thuộc Bằng khoán số 42, tại tờ ủy quyền ngày 23/4/1962. Việc bà N1 đứng ra tranh chấp với Công ty T là đủ tư cách. Sau đó, bà Nguyễn Thị Thanh N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 062447 ngày 11/01/2016 đối với 433m² đất theo Quyết định số 716/QĐ/UBND ngày 25/3/2008 của UBND Thành phố C.
Sau khi có Quyết định 716/QĐ-UBND ngày 25/3/2008 của UBND Thành phố C, bà T1 được ủy quyền bà M tiếp tục khiếu nại. Tại Biên bản làm việc với Thanh tra ngày 07/7/2014 thì bà N đồng ý giao lại có điều kiện cho bà T1 150m² trong tổng số 583m² mà Quyết định 716/QĐ-UBND nêu trên cho phép bà N đăng ký. Không đồng ý, bà T1 được ủy quyền của bà M tiếp tục khởi kiện bà N tại Tòa án Thành phố Cần Thơ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà N và bồi thường thiệt hại. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 72/2022/DS-PT ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định công nhận phần đất 433m² cho bà N, buộc bà T1 phải giao cho bà N phần diện tích đất này. Bản án này có hiệu lực thi hành. Sau khi có bản án phúc thẩm, bà N làm hợp đồng tặng cho ông Trần Nhất V (là con bà N) đúng theo quy định pháp luật và nên việc bà M yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà N và ông V là không có cơ sở chấp nhận.
Về yêu cầu độc lập của bà N buộc bà M, bà T1 liên đới trả 150m²: Qua quá trình khiếu nại đòi lại đất, như trên nhận định, bà N được bà N1 ủy quyền khiếu nại cơ quan có thẩm quyền đòi lại đất. Ngày 25/3/2008, UBND đã ban hành Quyết định 716/QĐ-UBND cho bà N đăng ký quyền sử dụng đất 583m², bà M lại tiếp tục ủy quyền cho bà T1 đi khiếu nại. Tại biên bản làm việc với Thanh tra Thành phố Cần Thơ ngày 07/7/2014, bà N đồng ý giao lại cho bà T1 150m² đất trong tổng 583m² với điều kiện: “Sau này bà T1 không được khiếu nại hay yêu cầu gia đình bà N bồi thường bất cứ khoản nào khác và không được gây khó khăn cho gia đình trong việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Qua đó cho thấy, việc tự nguyện của bà N giao đất cho bà T1 là có điều kiện đó là “Không được khiếu nại”. Nhưng sau khi bà N được cấp giấy năm 2016 thì bà M ủy quyền cho bà T1 tiếp tục khiếu kiện đòi lại toàn bộ phần đất 433m² là đã xem như “khiếu nại” tiếp, gây khó khăn trong việc bà N thực hiện quyền của người sử dụng đất. Yêu cầu này đã qua hai cấp xét xử và được giải quyết tại Bản án dân sự phúc thẩm số 72/2022/DS-PT ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trong vụ án này bà M tiếp tục khởi kiện bà T1 trả lại phần đất này thông qua Hợp đồng cho mượn đất ở năm 1999 nhưng thực tế là tranh chấp với gia đình bà N. Phần đất này hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã được công nhận quyền sử dụng đất cho bà N theo quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của bà N, công nhận cho bà N quyền sử dụng diện tích đất này và được làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ, đúng pháp luật.
Trên cơ sở đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn cần giữ nguyên bản án sơ thẩm mới đảm bảo giải quyết vụ án đúng pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu do yêu cầu không được chấp nhận nhưng do là người cao tuổi nên được miễn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
* Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 14/QĐ-VKS-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn T, đại diện ủy quyền của bà Phan Thị M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ như sau:
- Đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị M đối với việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh N cập nhật sang tên quyền sử dụng đất thửa 39, diện tích 583m².
- Không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị M đối với yêu cầu buộc bà Hồ Thị Ngọc T1 giao trả 583m² đất và yêu cầu vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 5500 ngày 26/7/2022 đã ký giữa bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Trần Nhất V.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Thanh N.
- Tuyên bố Hợp đồng cho mượn nhà ở, đất và ao nuôi cá lập ngày 01/12/1999 giữa bà Phan Thị M và bà Hồ Thị Ngọc T1 vô hiệu.
- Buộc bà Hồ Thị Ngọc T1 có nghĩa vụ giao trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh N 150m² đất tại thửa 391, tờ bản đồ số 47 (có vị trí tiếp giáp bên trái phần đất 433m² từ ngoài nhìn vào, theo bản trích đo địa chính số 21/TTKTTNMT ngày 16/4/2018 của Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và Môi trường Thành phố C).
- Bà Nguyễn Thị Thanh N được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng phần đất này theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn bà M không phải chịu.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Các Thẩm phán |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Chung Văn Kết Hoàng Minh Thịnh |
Bùi Thị Thu |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Thu |
Bản án số 832/2024/DS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, vô hiệu hợp đồng cho mượn nhà ở, đất
- Số bản án: 832/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, vô hiệu hợp đồng cho mượn nhà ở, đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 14/QĐ-VKS-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ. Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn T, đại diện ủy quyền của bà Phan Thị M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.
