|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 832/2024/DS-PT
Ngày: 18/9/2024
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Tiên
Các Thẩm phán:
- Bà Lê Thị Mỹ Nhung
- Bà Huỳnh Thị Như Hà
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Võ Quỳnh Ngọc- Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Vân- Kiểm sát viên.
Trong ngày 18/9/2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 593/2024/TLPT-DS ngày 30/7/2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 252/2024/DS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7082/2024/QĐXXPT-DS ngày 05/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5678/2024/QĐPT-DS ngày 26/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- Bà Lữ Thị Như T, sinh năm 1978.
- Ông Lữ Vĩnh H, sinh năm 1979.
- Bà Lữ Thị Ngọc T1, sinh năm 1983.
- Ông Lữ Vĩnh P, sinh năm 1984.
Cùng địa chỉ: A C, khu phố I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn: ông Đinh Văn V, sinh năm: 1993. Địa chỉ: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Theo văn bản ủy quyền ngày 03/06/2021 (có mặt).
Bị đơn: Ông Trần Trọng Đ, sinh năm 1974.
Địa chỉ: G D, Phường A (P.15 cũ), Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1963 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1952 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Hồng P1, sinh năm 1974.
- Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Mã Thanh X, sinh năm 1976 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Bé H2, sinh năm 1976 (vắng mặt)
- Nguyễn Kim P2, sinh năm 2006.
- Nguyễn Kim P3, sinh năm 2013.
- Lữ Văn L, sinh năm 2003.
- Lữ Mai L1, sinh năm 2008.
- Nguyễn Thanh H3, sinh năm 1977 (xin vắng mặt).
- Nguyễn Thị Thu L2, sinh năm 1992.
- Nguyễn Hoa Lan N, sinh năm 2015.
Cùng địa chỉ: 9 L, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Hồng P1: ông Trần Trọng Đ, sinh năm: 1974 (có mặt).
Địa chỉ: G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Là đại diện ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 22/06/2022.
Địa chỉ trụ sở: E K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân quận B: ông Lê Minh H1 là đại diện ủy quyền, theo văn bản ủy quyền số 4154/UBND ngày 21/09/2023 (vắng mặt).
Địa chỉ trụ sở: 9 N, Phường G, Quận E, TP ..
Người đại diện hợp pháp của Phòng C1: ông Lê Huỳnh Phương V1, là đại diện ủy quyền, theo văn bản ủy quyền (vắng mặt).
Cùng thường trú: ấp Đ, H, C, Trà Vinh.
Tạm trú: 134 đường C, khu phố I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: A đường C, khu phố I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyễn Kim P2 và Nguyễn Kim P3 là con ruột của bà Lữ Thị Như T, do bà Lữ Thị Như T làm đại diện (xin vắng mặt).
Địa chỉ: A đường C, khu phố I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: A đường C, khu phố I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh,
Người đại diện hợp pháp của ông L, bà L1 là ông Lữ Vĩnh H (xin vắng mặt).
Địa chỉ: A đường C, khu phố I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ tạm trú: 140 đường C, khu phố I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp của trẻ Lan N là bà Nguyễn Thị Thu L2 (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Lữ T3, sinh năm 1951 (mất ngày 08/08/2016) là cha ruột của bà Lữ Thị Như T, Lữ Vĩnh H, Lữ Thị Ngọc T1 và Lữ Vĩnh P. Sinh thời, ông Lữ T3 có nhận chuyển nhượng 02 thửa đất:
- - Thửa đất thứ nhất: Nhận chuyển nhượng vào năm 1996 là thửa số 74+75, tờ bản đồ 88 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ cấp ngày 12/05/2003. Hiện nay là thửa đất số 207, tờ bản đồ số 21, diện tích 204,60 m² tại địa chỉ: A C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Thửa đất thứ hai: Nằm giáp cuối hông thửa đất số 74, nhận chuyển nhượng ngày 26/04/2003 bằng giấy viết tay có diện tích 17,72 m² (4m x 4,43m) do vợ chồng ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị S chuyển nhượng lại cắt ra từ thửa đất lớn tọa lạc tại địa chỉ: C ấp I, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là quận B, Thành phố Hồ Chí Minh). Sau khi nhận chuyển nhượng, ông T3 đã xây dựng thành căn phòng bằng tường gạch nối liền với các thửa đất của mình và được gia đình ông T3 sử dụng làm nhà ở ổn định từ đó đến nay.
Vợ chồng ông T2, bà S chuyển nhượng phần đất có diện tích 17,72 m² nêu trên cho ông T3 vào năm 2003. Sau đó vợ chồng ông T2 bà S mới chuyển nhượng phần diện tích còn lại cho vợ chồng ông Trần Trọng Đ.
Khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà Cấp I, xã B, huyện B Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 333,7m² của vợ chồng ông T2 bà S thì ông Đ biết rõ diện tích đất thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có bao gồm phần đất có diện tích 17,72m² của ông T3. Thời điểm nhận chuyển nhượng ông T3 chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Do đó, hiện nay phần diện tích đất 17,72m² vẫn còn thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ, mặc dù diện tích này đã được gia đình ông T3 xây dựng nhà và sử dụng ổn định từ đó cho đến nay.
Sau khi ông T3 qua đời, thửa đất số 207, tờ bản đồ số 21 có diện tích 204,60 m² tại địa chỉ: A C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 268964, số vào sổ cấp GCN: CH 02452 do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 10/08/2010 đứng tên ông Lữ T3 đã được cập nhật sang tên cho các đồng thừa kế (gồm: bà Lữ Thị Như T, ông Lữ Vĩnh H, bà Lữ Thị Ngọc T1, ông Lữ Vĩnh P) ngày 19/11/2019 trong đó bao gồm cả phần đất đang tranh chấp.
Năm 2021, bà T1, bà T, ông P và ông H là các đồng thừa kế của ông T3 đã nhiều lần đề nghị ông Đ điều chỉnh lại diện tích đất theo hiện trạng sử dụng thực tế nhưng ông Đ không đồng ý vì cho rằng toàn bộ diện tích 333,7m² thể hiện theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng của ông.
Theo đơn khởi kiện ngày 17/01/2022, đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung ngày 17/03/2022, bản tự khai tháng 04/2022 và biên bản hòa giải ngày 17/06/2022 thì nguyên đơn và đại diện nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 17,72m² (4m x 4,43m) thuộc thửa số 211 (303, 304), tờ bản đồ số 21-SĐN (08-TL02), tọa lạc tại khu phố I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh được ông Lữ T3 nhận chuyển nhượng theo giấy tay ngày 26/04/2003 thuộc quyền sử dụng của các ông, bà: Lữ Thị Như T, Lữ Vĩnh H, Lữ Thị Ngọc T1, Lữ Vĩnh P. Đồng thời điều chỉnh biến động đối với diện tích tương đương nêu trên được cấp cho ông Trần Trọng Đ sang cho các ông, bà: Lữ Thị Như T, Lữ Vĩnh H, Lữ Vĩnh P và Lữ Thị Ngọc T1.
Theo đơn khởi kiện bổ sung ngày 24/10/2022 và biên bản hòa giải ngày 29/09/2023 thì nguyên đơn và đại diện nguyên đơn bổ sung thêm yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số H00422/Bình Trị Đông cấp ngày 25/03/2005 do Ủy ban nhân dân quận B cấp cho bà Nguyễn Thị S và phần đăng ký biến động ngày 29/08/2007 cho ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị H4. Các yêu cầu trước đây vẫn giữ nguyên không thay đổi.
Tuy nhiên sau đó, tại đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 05/01/2024 và Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì nguyên đơn và đại diện nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu cụ thể sau:
- - Tuyên vô hiệu một phần Hợp đồng chuyển nhượng được ký kết giữa ông Trần Trọng Đ, bà Nguyễn Thị Hồng P1 với bà Nguyễn Thị S theo Hợp đồng chuyển nhượng đối với giấy chứng nhận số AB 667851, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00422/Bình T, do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 25/03/2005 (hiện đã được cập nhật đứng tên ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1).
- Yêu cầu công nhận phần đất có diện tích 17,7m² thuộc thửa phân chiết 72-1 (TL 2005) theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh của Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H, Trung tâm đo đạc bản đồ đo vẽ ngày 30/10/2023 cho các đồng thừa kế của ông Lữ T3, gồm các ông, bà: Lữ Thị Như T, Lữ Vĩnh H, Lữ Thị Ngọc T1 và Lữ Vĩnh P.
- Điều chỉnh, đăng ký biến động đối với Giấy chứng nhận số AB 667851, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00422/Bình T, do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 25/03/2005, được cập nhật biến động sang tên cho ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1 ngày 29/08/2007.
- - Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn trình bày:
Vào năm 2007 vợ chồng ông có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị S phần diện tích đất theo Giấy chứng nhận số AB 667851, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00422/Bình Trị Đông, do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 25/03/2005 và đã được cập nhật sang tên vợ chồng ông vào ngày 29/08/2007.
Hiện tại vợ chồng ông đã ly hôn vào khoảng năm 2010 nhưng chưa chia tài sản chung đối với phần đất này. Việc chuyển nhượng mua bán giữa ông, bà P1 và bà S là đúng trình tự quy định và đã được cấp giấy đứng tên ông và bà P1 nên ông và bà P1 không đồng ý trả phần đất trên cho các đồng thừa kế của ông T3.
Khi nhận chuyển nhượng từ bà Sáng ông không biết bị mất một phần đất do nhà ông T3 xây dựng trên đó vì bị dãy nhà trọ che lấp, cho đến khi ông đập dãy nhà trọ mới phát hiện phần đất bị mất này (khoảng 17m²) đã được gia đình nhà ông T3 xây dựng nhà kiên cố và sáp nhập với phần nhà mà trước đó họ đã mua từ rước khi ông mua đất của bà S. Nay ông và bà P1 không đồng ý trả lại phần đất theo yêu cầu của nguyên đơn, vì thực tế ông mua theo diện tích trên Giấy chứng nhận, việc mua bán chuyển nhượng là hợp pháp và đã được cập nhật sang tên ông và bà P1. Do đó ông đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan- bà Nguyễn Thị S trình bày:
Vào ngày 26/4/2003 vợ chồng bà có chuyển nhượng cho ông Lữ T3 phần đất giáp ranh phía hông nhà số C, ấp I (nay là nhà số A C), phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 17,72m² (4m x 4,43m) với giá 5,5 lượng vàng 9999. Theo tài liệu 2005 thì phần đất này thuộc một phần thửa số 72, địa chỉ số A C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi nhận chuyển nhượng thì hai bên chưa làm thủ tục tách thửa nhưng gia đình ông Lữ T3 đã xây dựng nhà trên phần đất nhận chuyển nhượng và sử dụng ổn định từ đó tới nay. Tuy nhiên, sau đó bà đã chuyển nhượng thửa đất số 72, địa chỉ số A C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Trần Trọng Đ (bao gồm cả phần đất đã chuyển nhượng cho ông Lữ T3). Tại thời điểm chuyển nhượng, bà đã thông báo cho ông Trần Trọng Đ biết về việc bà đã chuyển nhượng một phần đất cho ông Lữ T3 trước đó.
- - Ông Nguyễn Văn T2 (là chồng của bà Nguyễn Thị S) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.
- - Ý kiến của Ủy ban nhân dân quận B:
Ủy ban nhân dân quận B xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00422/Bình Trị Đông ngày 25/3/2005 cho bà Nguyễn Thị S tại địa chỉ số C khu phố I, phường B, quận B là đúng quy định pháp luật, nên nghị Tòa án nhân dân quận không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00422/Bình Trị Đông ngày 25/3/2005 cho bà Nguyễn Thị S và phần đăng ký biến động ngày 29/8/2007 cho ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1.
Trường hợp, Tòa án xét thấy có sự đồng ý của các bên liên quan giao lại phần đất 17,72m² thuộc một phần thửa đất số 72, tờ bản đồ số 88 (TL2005), phường B, quận B thì thực hiện hợp thửa đất liền kề tại trang 5 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH02452 ngày 10/8/2010 do UBND quận B cấp cho các ông (bà) Lữ Thị Như T, Lữ Vĩnh H, Lữ Thị Ngọc T1, Lữ Vĩnh P, đồng thời giảm diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00422/Bình Trị Đông ngày 25/3/2005 của ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1.
- - Ông Lê Huỳnh Phương V1 đại diện ủy quyền của Phòng C1 trình bày:
Căn cứ hồ sơ lưu trữ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (có tài sản gắn liền với đất) số công chứng 27424 ngày 09/08/2007 (sau đây gọi tắt là hợp đồng số 27424) thì tại thời điểm công chứng, căn cứ vào các giấy tờ mà người yêu cầu công chứng đã xuất trình là đầy đủ và phù hợp với quy định của Luật công chứng năm 2006 và các quy định pháp luật khác có liên quan; căn cứ yêu cầu công chứng của các bên không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, công chứng viên đã tiếp nhận hồ sơ và thực hiện việc công chứng hợp đồng nêu trên theo đúng trình tự, thủ tục, thành phần hồ sơ của Luật công chứng năm 2006 và các quy định pháp luật liên quan trên cơ sở tự do ý chí, sự tự nguyện cam kết, thỏa thuận của các bên. Phòng C1 đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, đồng thời đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án và.
- - Ông Mã Thanh X và bà Nguyễn Thị Bé H2 trình bày (bút lục 189):
Ông, bà là người ở trong nhà của ông Trần Trọng Đ tại địa chỉ A C, khu phố I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, ông bà chỉ ở đây để trông xưởng và làm việc cho ông Đ chứ không tranh chấp hay liên quan gì đối với phần nhà đất nêu trên, đồng thời có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thị Thu L2 và Nguyễn Hoa Lan N (cháu Lan N là con chưa thành niên của bà Thu L2, do bà Thu L2 đại diện) trình bày (bút lục 185):
Họ là người thuê phòng trọ của gia đinh nguyên đơn tại nhà số A đường C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi hiện đang tạm trú tại địa chỉ vừa nêu, tuy nhiên khoảng 2 tuần nữa chúng tôi sẽ dọn đi nơi ở mới. Bà L2, bà N xác định không liên quan và không đóng góp trong việc hình thành quyền sử dụng đất này, đồng thời đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
- - Ông Nguyễn Thanh H3 trình bày (bút lục 187): ông là chồng của bà Lữ Thị Như T nguyên đơn (ông H3 hiện đang cư trú tại nhà liên quan đến phần đất tranh chấp), ông không đóng góp gì trong việc hình thành quyền sử dụng đất đang tranh chấp với bị đơn ông Trần Trọng Đ. Do đó ông yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
- - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác, gồm: Nguyễn Kim P2 và Nguyễn Kim P3 (là con chưa thành niên của bà Lữ Thị Như T, do bà T làm đại diện); Lữ Văn L và Lữ Mai L1 (là con chưa thành niên của ông Lữ Vĩnh H, do ông H làm đại diện). Những người này hiện đang thực tế cư trú tại địa chỉ số A C, khu phố I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (một phần nhà đất này liên quan đến phần đất tranh chấp với bị đơn. Những người này có đơn xin xét xử vắng mặt (bút lục 188 và 244).
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 252/2024/DS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các ông, bà: Lữ Thị Như T, Lữ Vĩnh H, Lữ Thị Ngọc T1 và Lữ Vĩnh P.
- Công nhận quyền sử dụng đất cho các ông, bà: Lữ Thị Như T, Lữ Vĩnh H, Lữ Thị Ngọc T1 và Lữ Vĩnh P đối với phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 17,7m² thuộc Thửa phân chiết 72-1 (TL 2005) theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh của Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H, Trung tâm đo đạc bản đồ đo vẽ ngày 30/10/2023.
- Các ông, bà: Lữ Thị Như T, Lữ Vĩnh H, Lữ Thị Ngọc T1 và Lữ Vĩnh P được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cập nhật một phần Thửa phân chiết 72-1 (TL 2005) có diện tích 17,7m² theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, Trung tâm đo đạc bản đồ đo vẽ ngày 30/10/2023.
- T4 vô hiệu một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (có tài sản gắn liền với đất) được ký kết giữa bà Nguyễn Thị S (bên chuyển nhượng) với ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1 (bên nhận chuyển nhượng) ngày 09/08/2007 tại Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng: 027424, quyển số 08TP/CC-SCC/HĐGD.
- Ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1 có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện điều chỉnh biến động Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 667851, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00422/Bình Trị Đông do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 25/03/2005 cho bà Nguyễn Thị S (được cập nhật biến động nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý đứng tên ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1 ngày 29/08/2007) đối với T5 phân chiết 72-1 (TL 2005) có diện tích 17,7m² theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh của Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H, Trung tâm đo đạc bản đồ đo vẽ ngày 30/10/2023.
- Giành quyền khởi kiện cho ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1 để yêu cầu bà Nguyễn Thị S bồi thường thiệt hại (nếu có cơ sở) trong một vụ kiện dân sự khác tại Tòa án có thẩm quyền.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự cũng như các quy định về thi hành án dân sự.
Ngày 03/6/2024, bị đơn- ông Trần Trọng Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
- - Đại diện nguyên đơn đề nghị giữ y bản án sơ thẩm.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội đồng xét xử cũng như các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhận định yêu cầu kháng cáo của bị đơn hoàn toàn không có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận và giữ y bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của vị Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 22/5/2024, Tòa án nhân dân quận Bình Tân đưa vụ án ra xét xử và ban hành Bản án số 252/2024/DS-ST; ngày 03/6/2024, bị đơn nộp đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm. Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì kháng cáo của bị đơn còn trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét.
[2] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan- Đại diện Phòng C1 và đại diện Ủy ban nhân dân quận B, ông Mã Thanh X, bà Nguyễn Thị Bé H2, ông Lữ Văn L và bà Lữ Mai L1, ông Nguyễn Thanh H3, ông Nguyễn Kim P2 và bà Nguyễn Kim P3 cùng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Văn T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do do đó căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[3]. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
[3.1] Căn cứ Văn bản số 2829/CNBT ngày 22/8/2023 của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B, căn cứ lời khai thừa nhận của bà Nguyễn Thị S (Bút lục số 96, 97), có cơ sở xác định phần đất tranh chấp 17,7 m² thuộc một phần thửa đất số 72 là của ông Nguyễn Văn V2, ông V2 được cấp giấy chứng nhận vào năm 1996. Ông V2 tặng cho con gái là bà Nguyễn Thị S vào năm 1985, bà S sử dụng nhưng không kê khai. Năm 2003, vợ chồng bà Sáng L3 giấy tay chuyển nhượng cho ông Lữ T3 phần diện tích 17,7m² với giá 5,5 lượng vàng 9999, phần đất này nằm ở vị trí tiếp giáp phía cuối hông của thửa đất số 74 của ông Lữ T3. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông T3 xây dựng căn phòng bằng tường gạch nối liền với thửa đất của mình và gia đình ông T3 sử dụng cho đến nay. Năm 2004, Bà S làm thủ tục kê khai thửa đất mà bà được ông V2 tặng cho là thửa 72, nhưng lại kê khai luôn cả diện tích 17,7 m² đã chuyển nhượng giấy tay cho ông T3 và đến năm 2007 bà S đã chuyển nhượng toàn bộ thửa 72 cho ông Trần Trọng Đ, nhưng bà có thông báo cho ông Đ biết việc này.
Xét, phần diện tích đất này phía nguyên đơn đã xây dựng công trình nhà và sử dụng từ năm 2003 đến nay. Mặc dù việc chuyển nhượng bằng giấy tay, nhưng việc chuyển nhượng này đã được bà S thừa nhận và phía nguyên đơn cũng đã thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán của mình. Căn cứ vào quy định tại tiểu mục 2, mục II của Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì giao dịch giữa vợ chồng bà S và ông Lữ T3 là có hiệu lực. Bà S đã chuyển nhượng một phần đất này cho ông Lữ T3 nhưng làm thủ tục chuyển nhượng toàn bộ thửa 72 cho vợ chồng ông Đ là không đúng pháp luật.
[3.2] Bị đơn cũng thừa nhận việc khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà S, ông Đ có đến xem thực tế và cũng thấy có công trình xây dựng này nhưng do công trình xây dựng tại thửa đất này được xây thành các dãy nhà trọ nên ông Đ không rõ công trình đó có thuộc phần diện tích chuyển nhượng hay không. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ thừa nhận ông mua đất theo Giấy chứng nhận, nên không tiến hành chỉ ranh, giao đất trên thực tế. Sau khi về sử dụng ông phát hiện thiếu đất và cũng biết gia đình nguyên đơn đang sử dụng, nhưng ông không tranh chấp.
Điều này cho thấy khi thoả thuận chuyển nhượng, giữa ông Đ và bà S không tiến hành chỉ ranh, giao đất theo đúng thực tế sử dụng, các bên lập thủ tục chuyển nhượng toàn bộ thửa đất với diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó bao gồm cả phần diện tích quyền sử dụng đất mà bà S đã chuyển nhượng cho ông Lữ T3 trước đó. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà S với vợ chồng ông Đ đối với phần diện tích đất 17,7m² là hoàn toàn đúng pháp luật.
Với nhận định trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm về việc giữ y bản án sơ thẩm là có cơ sở.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 26; điểm a Khoản 2 và điểm a Khoản 3 Điều 27 của Nghị quyết Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí không có giá ngạch là 600.000 đồng.
[5] Về chi phí tố tụng:
- - Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp xong.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên người kháng cáo- ông Trần Trọng Đ phải chịu án phí 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 148; Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014;
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn- ông Trần Trọng Đ.
Giữ y bản án dân sự sơ thẩm số 252/2024/DS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- bà Lữ Thị Như T, ông Lữ Vĩnh H, bà Lữ Thị Ngọc T1 và ông Lữ Vĩnh P:
- Công nhận quyền sử dụng đất cho các ông, bà: Lữ Thị Như T, Lữ Vĩnh H, Lữ Thị Ngọc T1 và Lữ Vĩnh P đối với phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 17,7m² thuộc Thửa phân chiết 72-1 (TL 2005) theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh của Trung tâm đo đạc bản đồ- Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 30/10/2023.
- Tuyên vô hiệu một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (có tài sản gắn liền với đất) được ký kết giữa bà Nguyễn Thị S (bên chuyển nhượng) với ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1 (bên nhận chuyển nhượng) ngày 09/08/2007 tại Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng: 027424, quyển số 08TP/CC-SCC/HĐGD.
- Các ông, bà: Lữ Thị Như T, Lữ Vĩnh H, Lữ Thị Ngọc T1 và Lữ Vĩnh P được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cập nhật một phần Thửa phân chiết 72-1 (TL 2005) có diện tích 17,7m², theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh của Trung tâm đo đạc bản đồ- Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 30/10/2023.
- Ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1 có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện điều chỉnh biến động Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 667851, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00422/Bình Trị Đông do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 25/03/2005 cho bà Nguyễn Thị S (được cập nhật biến động nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý đứng tên ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1 ngày 29/08/2007) đối với T5 phân chiết 72-1 (TL 2005) có diện tích 17,7m² theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh của Trung tâm đo đạc bản đồ- Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 30/10/2023.
- Giành quyền khởi kiện cho ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1 đối với bà Nguyễn Thị S trong một vụ kiện dân sự khác nếu có yêu cầu.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bị đơn ông Trần Trọng Đ phải chịu 600.000 (Sáu trăm nghìn) đồng.
- - H5 lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 600.000 (Sáu trăm nghìn) đồng cho các ông, bà: Lữ Thị Như T, Lữ Vĩnh H, Lữ Thị Ngọc T1 và Lữ Vĩnh P, theo các Biên lai thu số: AA/2021/0033705 ngày 30/03/2022 và số AA/2023/0027236 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp xong.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn- ông Trần Trọng Đức C 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0011534 ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân.
Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các đương sự thi hành án theo các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Mỹ Tiên |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Huỳnh Thị Như Hà Lê Thị Mỹ Nhung |
Mai Thị Mỹ Tiên |
Bản án số 832/2024/DS-PT ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 832/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Lữ Thị Như T BĐ: Trần Trọng Đ QĐ: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn- ông Trần Trọng Đ. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm số 252/2024/DS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- bà Lữ Thị Như T, ông Lữ Vĩnh H, bà Lữ Thị Ngọc T1 và ông Lữ Vĩnh P: 1.1 Công nhận quyền sử dụng đất cho các ông, bà: Lữ Thị Như T, Lữ Vĩnh H, Lữ Thị Ngọc T1 và Lữ Vĩnh P đối với phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 17,7m2 thuộc Thửa phân chiết 72-1 (TL 2005) theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh của Trung tâm đo đạc bản đồ- Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 30/10/2023. 1.2 Tuyên vô hiệu một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (có tài sản gắn liền với đất) được ký kết giữa bà Nguyễn Thị S (bên chuyển nhượng) với ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1 (bên nhận chuyển nhượng) ngày 09/08/2007 tại Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng: 027424, quyển số 08TP/CC-SCC/HĐGD. 1.3 Các ông, bà: Lữ Thị Như T, Lữ Vĩnh H, Lữ Thị Ngọc T1 và Lữ Vĩnh P được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cập nhật một phần Thửa phân chiết 72-1 (TL 2005) có diện tích 17,7m2, theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh của Trung tâm đo đạc bản đồ- Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 30/10/2023. 1.4 Ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1 có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện điều chỉnh biến động Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 667851, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00422/Bình Trị Đông do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 25/03/2005 cho bà Nguyễn Thị S (được cập nhật biến động nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý đứng tên ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1 ngày 29/08/2007) đối với T5 phân chiết 72-1 (TL 2005) có diện tích 17,7m2 theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh của Trung tâm đo đạc bản đồ- Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 30/10/2023. 1.5 Giành quyền khởi kiện cho ông Trần Trọng Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P1 đối với bà Nguyễn Thị S trong một vụ kiện dân sự khác nếu có yêu cầu. Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
