|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 831/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19-9-2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Quang Cảnh
- Ông Lê Ngọc Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Cúc – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 234/2024/HNST ngày 22 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 983/2024/QĐXXST-HN ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1298/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 20204, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Lê Uyên V, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ: 8 T, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Bị đơn: Ông Dương Đức T, sinh năm 1985 (vắng mặt)
HKTT: 42/17 H, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi ở hiện nay: 332/36/2 T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 11 tháng 3 năm 2024, bản tự khai và tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nguyên đơn bà Lê Uyên V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Uyên V và ông Dương Đức T tự nguyện kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 105/2012, quyển số 01/2012, ngày 05/12/2012.
Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó hai bên thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm với nhau, hai bên đã sống ly thân với nhau, mỗi người sống một nhà. Đôi bên đã nhiều lần hòa giải và hàn gắn với nhau nhưng đều không có kết quả, việc vợ chồng mâu thuẫn với nhau làm ảnh hưởng tới chất lượng sống và đời sống tinh thần của hai vợ chồng và con cái. Nay xác định tình cảm vợ chồng đã không còn như trước, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Dương Đức T.
- Về con chung: vợ chồng có một con chung tên Dương Chí D, sinh ngày 17/10/2012. Khi ly hôn bà V đồng ý giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng và bà không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà V xác nhận vợ chồng không có tài sản chung.
- Về nghĩa vụ dân sự khác: Bà V xác nhận không có nợ chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Dương Đức T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng ông T không nộp cho Tòa án văn bản ghi nhận ý kiến cũng như vắng mặt tại tất cả các lần triệu tập của Tòa án mà không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo quy định. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn bà Lê Uyên V vẫn giữa nguyên yêu cầu khởi kiện: đề nghị được ly hôn với ông T, đồng ý giao con chung là Dương Chí D, sinh ngày 17/10/2012 cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng và bà không cấp dưỡng nuôi con. Bà đồng ý giao con chung cho ông T nuôi vì hiện bé đang học trường gần nhà ông T, ở chung với ông T và bà nội nên để bé tiếp tục ở với ba để tránh xáo trộn chỗ ở, tâm lý của bé, bà vẫn qua lại thăm và chăm sóc con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có.
- Bị đơn ông Dương Đức T vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu ý kiến với nội dung chính như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng về thẩm quyền thụ lý vụ án; xác định quan hệ tranh chấp; xác định tư cách pháp lý; thu thập chứng cứ; thời gian tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự; Thời hạn chuẩn bị xét xử; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về thủ tục tố tụng:
-
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 105/2012, quyển số 01/2012, ngày 05/12/2012 do Ủy ban nhân dân phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, Hội đồng xét xử xác định quan hệ giữa bà Lê Uyên V và ông Dương Đức T là quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận. Nay bà V yêu cầu ly hôn, ông T có nơi cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
-
Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị đơn ông Dương Đức T đã được Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 171; Điều 177, Điều 179, Điều 196, Điều 208, Điều 220; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo quy định. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
-
-
Về yêu cầu của đương sự:
Tại phiên tòa ông Dương Đức T không có mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết theo quy định pháp luật. Ông Dương Đức T phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
-
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lê Uyên V yêu cầu ly hôn với ông Dương Đức T:
Căn cứ vào bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà Lê Uyên V và ông Dương Đức T thực tế đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình đôi bên không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, hai bên đã sống ly thân với nhau. Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng ông Dương Đức T vẫn không đến Tòa và không có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án, tất cả những việc này thể hiện ông T đã không còn thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay bà V xác nhận không còn tình cảm với ông T, không có khả năng hàn gắn.
Hội đồng xét xử xét thấy, nguyên tắc cơ bản của hôn nhân là tự nguyện, mục đích hôn nhân là “vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc”, trong trường hợp này giữa bà V và ông T không còn tình cảm, không còn khả năng hàn gắn, mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà V.
-
Về con chung:
Ông Dương Đức T không có văn bản trình bày về việc nuôi con.
Bà V xác nhận vợ chồng có một con chung tên Dương Chí D, sinh ngày 17/10/2012. Khi ly hôn bà đồng ý giao con chung cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng và bà không cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con cho ai nuôi phải dựa vào quyền lợi và nguyện vọng của trẻ, hiện nay thực tế trẻ D đang sống chung cùng ông T, đi học gần nhà và nguyện vọng của trẻ D cũng muốn tiếp tục sống cùng ba để thuận tiện đi học nên căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà V, giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng.
-
Về cấp dưỡng nuôi con chung:
ông T vắng mặt và không trình bày ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà V đề nghị không cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ của bà V về việc cấp dưỡng nuôi con.
-
Về tài sản chung:
Bà V xác nhận vợ chồng không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này ông T có căn cứ cho rằng hai bên có tài sản chung thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định pháp luật
-
Về nghĩa vụ dân sự khác:
Bà V xác nhận không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này ông T có căn cứ cho rằng hai bên có tài sản chung thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định pháp luật
-
-
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
-
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Bà Lê Uyên V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng:
- Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Uyên V.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Uyên V được ly hôn với ông Dương Đức T.
- Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Uyên V và ông Dương Đức T (theo Giấy chứng nhận kết số 105/2012, quyển số 01/2012, ngày 05/12/2012 do Ủy ban nhân dân phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp) chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
-
Về con chung: Ông Dương Đức T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Dương Chí D, sinh ngày 17/10/2012. Tạm hoãn nghĩa vụ của bà V về việc cấp dưỡng nuôi con do ông T không yêu cầu.
- + Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết.
- + Bà Lê Uyên V có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- + Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội L), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà V xác nhận vợ chồng không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này ông T có căn cứ cho rằng hai bên có tài sản chung thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
- Về nghĩa vụ dân sự khác: Bà V xác nhận vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này ông T có căn cứ cho rằng hai bên có tài sản chung thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định pháp luật
-
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Bà Lê Uyên V phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp theo biên lai thu số 0007772 ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
-
Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi Tòa tuyên án mà có lý do chính đáng được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6;7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hương Giang |
6
Bản án số 831/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 831/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
