TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 831/2024/HC-PT
Ngày 09 – 8 – 2024
V/v Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh
vực đất đai về bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Văn Mười
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh
Ông Trần Ngọc Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Đỗ Xuân Lượng – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 378/2024/TLPT-HC ngày 15 tháng 4 năm 2024 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai về bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất".
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 2109/2023/HC-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2384/2024/QĐ-PT ngày 25/7/2024, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Phạm Văn Q (có mặt);
Địa chỉ: A L, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đăng S (có mặt) và ông Nguyễn Hữu H (vắng mặt); Cùng địa chỉ: A Đường P, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Người bị kiện:
2.1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H (có văn bản xin vắng mặt);
Địa chỉ: H L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H: Ông Trần Văn L, Phó Trưởng Ban bồi thường giải phóng mặt bằng thành phố T (có văn bản xin vắng mặt).
2.2. Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
2.3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T:
- Ông Trần Văn L – Phó Trưởng Ban bồi thường giải phóng mặt bằng thành phố T (có văn bản xin vắng mặt).
- Ông Nguyễn Nam K – Phó Trưởng phòng Nghiệp vụ 5 Ban bồi thường, giải phóng mặt bằng thành phố T (có mặt).
- Ông Dương Thành N – Công chức Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trường Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị X (vắng mặt);
Địa chỉ: A L, Tổ A, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Lê An N1; Địa chỉ: A Đường P, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
4. Người kháng cáo: Ông Phạm Văn Q là người khởi kiện và bà Phạm Thị X là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước S quận T (nay là thành phố T) trên địa bàn phường L và phường L, ông Phạm Văn Q có phần đất, nhà, tài sản khác và cây cối, hoa màu nằm trong ranh giải tỏa. Trong đó:
- Thiệt hại về đất: Tổng diện tích 298,2m² thuộc thửa 20, tờ bản đồ 01, hiện trạng sử dụng: Nhà tạm, giải tỏa một phần.
- Thiệt hại về tài sản: Nhà tạm (Kết cấu: Mái tôn, vách tôn, cột gỗ, nền xi măng), diện tích 9,99m²; Chuồng heo (Kết cấu: Mái tôn, cột gỗ, nền xi măng), diện tích 29,16m²; Hàng rào, diện tích 33,2m² và cổng sắt, diện tích 5,6m².
- Tài sản khác: 01 điện kế phụ.
- Cây cối hoa màu: Trứng cá (09 cây); chuối (20 cây).
Ngày 31/01/2018, Ủy ban nhân dân (UBND) phường Linh Trung lập Giấy xác nhận số 01/GXN-UBND (thay thế Giấy xác nhận số 18/GXN ngày 23/8/2007) về xác nhận nguồn gốc, quá trình sử dụng nhà, đất, thời điểm xây dựng, tạo lập nhà, công trình và Giấy xác nhận vị trí, loại đất đối với hộ ông Phạm Văn Q.
Ngày 06/3/2018, Hội đồng Bồi thường của dự án lập Biên bản trị giá bồi thường, hỗ trợ đất và tài sản trên đất (đã được điều chỉnh một phần bởi Quyết định số 3440/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 của UBND quận T) cho ông Phạm Văn Q với tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ là 60.660.575 đồng, trong đó: Hỗ trợ 100% theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, vị trí 1, có nguồn gốc chiếm sử dụng trước ngày 15/10/1993, diện tích 293,8m² x hệ số bồi thường, hỗ trợ 1 x hệ số giá bồi thường, hỗ trợ 1 x đơn giá bồi thường, hỗ trợ 158.000 đồng/m² = 46.420.400 đồng.
Ngày 08/3/2018, UBND quận T ban hành Quyết định số 1412/QĐ- UBND về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án kênh tiêu thoát nước S tại phường L và phường L, quận T (Sau đây viết tắt là Quyết định số 1412/QĐ-UBND ngày 08/3/2018): “Thu hồi diện tích 298,2m² đất của ông Phạm Văn Q (địa chỉ thường trú: Thôn T, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng) thuộc một phần thửa đất số 2 và đường, tờ bản đồ 14, Bộ địa chính phường L, quận T (theo tài liệu bản đồ địa chính năm 2003).
Vị trí ranh giới khu đất được xác định theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 243 1/2017/HĐ-TTKÐ-CNBT do Trung tâm kiểm định Bản đồ và T2 lập ngày 22/9/2017".
Ngày 09/3/2018, UBND quận T ban hành Quyết định số 1414/QĐ- UBND về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trong dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum Thành phố trên địa bàn phường L, phường L, quận T đối với ông Phạm Văn Q (bà Phạm Thị X trực tiếp sử dụng) (Sau đây viết tắt là Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09/3/2018). Tổng số tiền bồi thường là 60.660.575 đồng.
Ngày 13/6/2018, UBND quận T ban hành Quyết định số 3440/QĐ- UBND về việc điều chỉnh một phần nội dung Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09/3/2018: “Từ ông Phạm Văn Q (bà Phạm Thị X trực tiếp sử dụng) thành: Ông Phạm Văn Q” (Sau đây viết tắt là Quyết định số 3440/QĐ-UBND ngày 13/6/2018).
Không đồng ý, ông Phạm Văn Q có đơn khiếu nại Quyết định số 1414/QĐ- UBND ngày 09/3/2018 của UBND quận T.
Ngày 23/8/2018, Chủ tịch UBND quận T ban hành Quyết định số 4929/QĐ- UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn Q (Sau đây viết tắt là Quyết định số 4929/QĐ-UBND ngày 23/8/2018). Tại Điều 1 Quyết định có nội dung:
“Điều chỉnh Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09 tháng 3 năm 2018 của UBND quận T về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trong dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum Thành phố trên địa bàn phường L, phường L, quận T đối với ông Phạm Văn Q và Quyết định số 3440/QĐ-UBND ngày 13 tháng 6 năm 2018 về việc điều chỉnh một phần nội dung Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09 tháng 3 năm 2018 của Ủy ban nhân dân quận T.
Giao Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng Quận tham mưu UBND quận T áp giá bồi thường, hỗ trợ phần đất diện tích 293,8m² đối với ông Phạm Văn Q đang sử dụng nằm trong ranh giải tỏa cụ thể như sau:
- Bồi thường, hỗ trợ phần đất diện tích 82,2m² (sử dụng trước ngày 15/10/1993) theo đơn giá đất xen kẽ trong khu dân cư 2.918.000 đồng/m².
- Hỗ trợ phần đất diện tích 211,6m² nằm trong hành lang bảo vệ đường ống nước thô D1800 (sử dụng trước ngày 15/10/1993) đất trồng cây lâu năm; vị trí 1; khu vực 1, theo hệ số 100% đơn giá 158.000 đồng/m²”.
Thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại nêu trên, ngày 10/10/2018 UBND quận T ban hành Quyết định số 5738/QĐ-UBND về chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ điều chỉnh, bổ sung cho ông Phạm Văn Q với số tiền 226.872.000 đồng.
Không đồng ý, ông Q tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND Thành phố H. Ngày 04/3/2019, Chủ tịch UBND Thành phố H ban hành Quyết định số 768/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn Q (Sau đây viết tắt là Quyết định số 768/QĐ-UBND).
Không đồng ý với các quyết định trên, nên ông Q khởi kiện đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu hủy các quyết định sau:
- - Quyết định số 1412/QĐ-UBND ngày 08/3/2018 của Ủy ban nhân dân quận T về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án kênh tiêu thoát nước S tại phường L và phường L, quận T;
- - Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09/3/2018 của Ủy ban nhân dân quận T về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trong Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum Thành phố trên địa bàn phường L và phường L quận T;
- - Quyết định số 3440/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 của Ủy ban nhân dân quận T v/v điều chỉnh một phần nội dung Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09/3/2018 của Ủy ban nhân dân quận T về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trong Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum Thành phố trên địa bàn phường L và phường L, quận T;
- - Quyết định số 4929/QĐ-UBND ngày 23/8/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn Q;
- - Quyết định số 768/QĐ-UBND ngày 04/3/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn Q;
Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời trình bày tại Tòa, người khởi kiện ông Phạm Văn Q có người đại diện theo ủy quyền là ông Trần Đăng S trình bày:
Phần nhà, đất của ông Q bị giải tỏa để làm Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum thành phố tại phường L, quận T được xác định vị trí theo Bản đồ hiện trạng số 243-1/2007/HĐ-TTKĐ-CNBT do Trung tâm kiểm định bản đồ lập ngày 22/9/2017 có diện tích 298,2m² (theo Tài liệu 1995 thuộc thửa 26-1, 26-2, 26-3, 27-1, 30-1 và 30-2, 27; theo Tài liệu 2004 thuộc thửa 2-1, một phần thửa 2-2, 2-3 và đường d (1)) bao gồm nhà, đất và các công trình phụ, hoa màu trên đất.
Trong quá trình thực hiện, triển khai dự án nêu trên, UBND quận T đã ban hành các quyết định ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Q, không đồng ý đối với các quyết định đó nên ông Q đã khiếu nại đến Chủ tịch UBND quận T và Chủ tịch UBND Thành phố H. Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại, ông Q khởi kiện đến Tòa án và yêu cầu hủy các quyết định sau: Quyết định số 768/QĐ-UBND, Quyết định số 4929/QĐ-UBND, Quyết định số 3440/QĐ-UBND, Quyết định số 1414/QĐ-UBND và Quyết định số 1412/QĐ- UBND, bởi các lý do sau:
Các quyết định bị kiện đã không đề cập đến tên của bà Phạm Thị X, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà X. Bà X đóng một vai trò quan trọng cùng với ông Q trong nguồn gốc, quá trình sử dụng đất. Trên thực tế, quá trình xác lập các tài liệu, hồ sơ liên quan đến việc bồi thường trước khi ban hành Quyết định số 3440/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 điều chỉnh chủ thể thì UBND quận T đã xác định chủ thể quản lý, sử dụng thực tế là bà Phạm Thị X, bản thân bà X cũng là người ký tên vào biên bản kiểm kê năm 2017.
Về nguồn gốc của phần đất là do ông Nguyễn Văn T sử dụng từ năm 1975 (trước ngày 15/10/1993). Năm 2004, ông T chuyển nhượng lại cho ông Q, không có tranh chấp, không tồn tại quy hoạch chi tiết đối với khu vực này. Căn cứ khoản 4 Điều 50 của Luật đất đai 2003; khoản 2 Điều 101 của Luật đất đai 2013 thì thời điểm chuyển nhượng đất cho ông Q từ năm 2004, diện tích đất của ông T đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều này đồng nghĩa với việc trong các quyết định của UBND Thành phố H và UBND quận T cho rằng phần đất diện tích đất của ông Q không thuộc trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không phù hợp, đây là nhận định sai lầm về nguồn gốc pháp lý thửa đất dẫn đến sai lầm trong việc bồi thường. Do đó, yêu cầu được bồi thường 82,2m² diện tích đất với đơn giá đất ở, đơn giá 24.000.000 đồng/m², đối với phần đất diện tích còn lại (298,2m² – 82,2m²) yêu cầu bồi thường theo đơn giá đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư.
Ngày 28/11/2014, Công an quận T đã ra thông báo kết luận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đối với hành vi có dấu hiệu phạm tội chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Đức P là người đã làm giả hợp đồng mua bán đất với ông T để lập hồ sơ nhận tiền bồi thường giải phóng mặt bằng. Trước khi có thông báo kết luận của Công an quận T thì UBND quận T đã ban hành Quyết định số 3378/QĐ- UBND ngày 13/6/2011 về việc chi trả số tiền bồi thường cho ông Nguyễn Đức P. Toàn bộ quá trình đo đạc giữa UBND quận T và ông P thời điểm đó ông Q không được biết. Sau thời điểm có kết luận của Công an quận T thì UBND quận T đã hủy bỏ quyết định trên đối với ông P để ban hành quyết định bồi thường mới đối với ông Q. Tuy nhiên, trước và trong thời điểm ban hành này, UBND quận T chỉ căn cứ vào các kết quả đo đạc, kiểm đếm từ lúc lập hồ sơ bồi thường cho ông P trước đó để ban hành quyết định mới thay đổi chủ thể nhận tiền bồi thường sang cho ông Q và bà X. Biên bản kiểm đếm đất và tài sản trên đất thuộc phạm vi thu hồi của Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận T ngày 09/3/2017 cũng chỉ ghi nhận lại các số liệu cũ, không tiến hành đo đạc lại thực tế, điều này dẫn đến việc diện tích đất thực tế bị thu hồi và các vấn đề khác liên quan đến tài sản trên đất vẫn chưa được làm rõ. Trong suốt quá trình giải quyết khiếu nại từ năm 2017 đến năm 2019, ông Q và bà X liên tục yêu cầu làm rõ các nội dung về đo đạc, kiểm đếm nhưng vẫn không có sự hợp tác từ UBND quận T.
Người bị kiện Chủ tịch UBND Thành phố H có ý kiến trình bày tại Văn bản số 3244/UBND-NCPC ngày 26/8/2020 như sau:
Phần đất diện tích 293,8m² theo Tài liệu 1995 thuộc một phần thửa 26, 27, 30 và đường, theo Tài liệu 2004 thuộc một phần thửa 2 và đường d (1) có nguồn gốc do ông Nguyễn Văn T sử dụng từ trước ngày 15/10/1993. Năm 2004, ông T chuyển nhượng lại cho ông Phạm Văn Q sử dụng. Trong đó: Một phần diện tích 211,6m² nằm trong hành lang bảo vệ đường ống nước thô D1800; Phần đất diện tích 4,4m² (Theo Tài liệu 1995 thuộc đường d (1), theo Tài liệu 2004 thuộc một phần thửa 2-2) có nguồn gốc là do ông Nguyễn Văn T chiếm sử dụng từ sau ngày 15/10/1993 đến trước ngày 22/4/2002.
Nhà và vật kiến trúc khác: Nhà tạm, chuồng heo, hàng rào và cổng sắt xây dựng sau ngày 22/4/2002, trong đó có một phần nhà và vật kiến trúc đã bị xử phạt hành chính về lĩnh vực quản lý – sử dụng đất đai và xây dựng theo Quyết định số 81/QĐ-XPHC ngày 02/3/2006 của UBND phường L, quận T.
Về nội dung khiếu nại:
Theo Mục 1.4 Công văn số 4733/STC-HĐTĐBT-BVG ngày 04/6/2009 của Hội đồng thẩm định bồi thường Thành phố (đã được UBND Thành phố chấp thuận tại Công văn số 2993/UBND-ĐTMT ngày 23/6/2009) có nêu thời điểm công bố phạm vi hành lang tuyến ống nước đối với tuyến ống nước thô D1800 là ngày 03/12/1997 (trước thời điểm ông Q xây dựng nhà vào năm 2006 và bị xử phạt).
Căn cứ điểm a khoản 7 mục II phần C của Phương án số 15/PABT-HĐBT ngày 17/4/2008 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án đầu tư xây dựng hệ thống tiêu thoát nước S, địa bàn quận T quy định như sau:
“7. Trường hợp đất đang sử dụng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định 84/2007/NĐ-CP hoặc diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất quy định tại Điều 70 của Luật đất đai và khoản 1 Điều 69 Nghị định 181/2004/NĐ-CP nhưng không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất không được bồi thường về đất, nhưng được xét hỗ trợ theo mục đích đang sử dụng như sau:
- Trường hợp đất đưa vào sử dụng trước ngày 15/10/1993: Mục đích sử dụng là đất nông nghiệp thì được xét hỗ trợ bằng 100% giá các loại đất nông nghiệp do UBND thành phố quy định và công bố hàng năm. Diện tích để tính hỗ trợ là diện tích đang sử dụng thực tế nhưng không quá 2000m²/hộ; phần diện tích còn lại (nếu có) không xét hỗ trợ”.
Tại khoản 2 Điều 3 quy định về giá các loại đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ban hành kèm theo Quyết định số 144/2007/QĐ-UBND ngày 27/12/2007 của UBND Thành phố quy định: Đất trồng cây lâu năm, vị trí 1, khu vực 1: 158.000 đồng/m².
Đối chiếu quy định trên và kết quả xác minh, UBND quận T đã tính hỗ trợ đối với phần diện tích 211,6m² theo đơn giá 158.000 đồng/m², là phù hợp theo quy định của chính sách.
Ngoài ra, UBND quận T hỗ trợ lãi suất từ ngày 01/01/2015 đến ngày 15/3/2018 do đã bồi thường chậm cho ông Phạm Văn Q (theo hướng dẫn của UBND thành phố tại Công văn số 2163/UBND-ĐTMT ngày 14/4/2015) với số tiền 10.604.015 đồng.
Do đó, việc ông Phạm Văn Q yêu cầu bồi thường phần diện tích 211,6m² với đơn giá là 2.918.000 đồng/m² là không có cơ sở xem xét giải quyết.
Quyết định giải quyết khiếu nại số 768/QĐ-UBND ngày 04/3/2019 của Chủ tịch UBND thành phố với nội dung: “Công nhận và giữ nguyên Quyết định giải quyết khiếu nại số 4929/QĐ-UBND ngày 23/8/2018 của Chủ tịch UBND quận T; không công nhận nội dung khiếu nại của ông Phạm Văn Q yêu cầu bồi thường đối với phần đất diện tích 211,6m² theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 243- 1/2017/HĐ-TTLÐ-CNBT do Trung tâm kiểm định bản đồ và tư vấn tài nguyên môi trường thuộc Sở T3 lập ngày 22/9/2017 với đơn giá đất nông nghiệp xem kẽ trong khu dân cư là 2.918.000 đồng/m² là đúng quy định. Đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử theo hướng giữ nguyên Quyết định giải quyết khiếu nại số 768/QĐ-UBND ngày 04/3/2019.
Người bị kiện UBND thành phố T trình bày ý kiến tại Văn bản 3295/UBND- GPMB ngày 21/7/2020 như sau:
Trong phạm vi giải tỏa để thực hiện Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum Thành phố trên địa bàn phường L, phường L, quận T theo Quyết định số 4605/QĐ-UBND ngày 13/10/2006 của UBND Thành phố về thu hồi đất để tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng chuẩn bị thực hiện Dự án kênh tiêu thoát nước S tại phường L và phường L, quận T (đã được điều chỉnh bởi Quyết định số 340/QĐ-UBND ngày 25/01/2007 và Quyết định số 1186/QĐ-UBND ngày 14/3/2014 của UBND Thành phố) và Quyết định 1412/QĐ-UBND ngày 08/3/2018 của UBND quận T về việc thu hồi đất để thực hiện dự án kênh tiêu thoát nước S tại phường L và phường L, quận T, ông Phạm Văn Q có phần đất, nhà, tài sản khác và cây cối hoa màu nằm trong ranh giải tỏa.
Ngày 09/3/2017, với sự chứng kiến của ông Phạm Văn Q, tổ công tác gồm các đại diện: Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận T, Chủ đầu tư, UBND phường L và Ban điều hành khu phố 1 đã tiến hành kiểm đếm đất và tài sản trên đất thuộc phạm vi thu hồi đất để thực hiện dự án do ông Phạm Văn Q sử dụng nằm trong ranh giải tỏa, bao gồm:
- Thiệt hại về đất: Tổng diện tích 298,2m² thuộc thửa 20, tờ bản đồ 01; Hiện trạng sử dụng: Nhà tạm, giải tỏa một phần.
- Thiệt hại về tài sản: Nhà tạm (Kết cấu: Mái tôn, vách tôn, cột gỗ, nền xi măng), diện tích 9,99m²; chuồng heo (Kết cấu: mái tôn, cột gỗ, nền xi măng), diện tích 29,16m²; Hàng rào, diện tích 33,2m² và cổng sắt, diện tích 5,6m².
- Tài sản khác: 01 điện kế phụ.
- Cây cối hoa màu: Trứng cá (09 cây); chuối (20 cây).
Ngày 31/01/2018, UBND phường L Giấy xác nhận số 01/GXN-UBND (thay thế Giấy xác nhận số 18/GXN ngày 23/8/2007) về xác nhận nguồn gốc, quá trình sử dụng nhà, đất, thời điểm xây dựng, tạo lập nhà và công trình và Giấy xác nhận vị trí, loại đất đối với hộ ông Phạm Văn Q.
Căn cứ Biên bản kiểm đếm ngày 09/3/2017, Giấy xác nhận nguồn gốc, quá trình sử dụng nhà, đất, thời điểm xây dựng, tạo lập nhà và công trình bị giải tỏa ngày 31/01/2018 của UBND phường L và Quyết định số 716/QĐ- UBND ngày 21/4/2008 của Chủ tịch UBND quận về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum thành phố trên địa bàn phường L, phường L, quận T (Phương án số 15/PABT-HĐBT ngày 17/4/2008).
Ngày 06/3/2018, Hội đồng Bồi thường của dự án quận lập Biên bản trị giá bồi thường, hỗ trợ đất và tài sản trên đất (đã được điều chỉnh một phần bởi Quyết định số 3440/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 của UBND quận T) cho ông Phạm Văn Q như sau: Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ là 60.660.575 (Sáu mươi triệu sáu trăm sáu mươi nghìn năm trăm bảy mươi lăm) đồng, trong đó:
Hỗ trợ 100% theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, vị trí 1, có nguồn gốc chiếm sử dụng trước ngày 15/10/1993, diện tích 293,8m² x hệ số bồi thường, hỗ trợ 1 x hệ số giá bồi thường, hỗ trợ 1 x đơn giá bồi thường, hỗ trợ 158.000 đồng/m² = 46.420.400 đồng.
Ngày 08/3/2018, UBND quận ban hành Quyết định số 1412/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án kênh tiêu thoát nước S tại phường L, phường L, quận T: “Thu hồi diện tích 298,2m² của ông Phạm Văn Q (địa chỉ thường trú: Thôn T, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng) thuộc một phần thửa đất số 2 và đường, tờ bản đồ 14, Bộ địa chính phường L, quận T (theo tài liệu bản đồ địa chính năm 2003).
Vị trí ranh giới khu đất được xác định theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 243- 1/2017/HĐ-TTKÐ-CNBT do Trung tâm kiểm định Bản đồ và T2 lập ngày 22/9/2017".
Ngày 09/3/2018, UBND quận T ban hành Quyết định số 1414/QĐ- UBND về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trong Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum thành phố trên địa bàn phường L, phường L, quận T đối với ông Phạm Văn Q (bà Phạm Thị X trực tiếp sử dụng). Tổng số tiền là 60.660.575 (Sáu mươi triệu sáu trăm sáu mươi nghìn năm trăm bảy mươi lăm) đồng.
Ngày 13/6/2018, UBND quận T ban hành Quyết định số 3440/QĐ- UBND về việc điều chỉnh một phần nội dung Quyết định số 1414/QĐ-UBND về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trong dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum thành phố trên địa bàn phường L và phường L, quận T: “Từ ông Phạm Văn Q (bà Phạm Thị X trực tiếp sử dụng). thành: Ông Phạm Văn Q”.
Ông Phạm Văn Q có đơn khiếu nại Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09/3/2018 của UBND quận T, tại buổi làm việc với đại diện Thanh tra quận ngày 26/6/2018, ông Phạm Văn Q xác định nội dung khiếu nại: Ông Phạm Văn Quyết không đồng ý UBND quận T bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất diện tích 293,8m² theo đơn giá 158.000 đồng/m². Ông Phạm Văn Q đề nghị UBND quận áp giá bồi thường đối với phần đất diện tích 293,8m² theo đơn giá đất nông nghiệp xen cài là 2.918.000 đồng/m². Lý do năm 2011, UBND quận đã lập hồ sơ bồi thường cho ông Nguyễn Đức P theo Quyết định số 3378/QĐ-UBND ngày 13/6/2011 đối với phần đất này theo giá đất nông nghiệp xen cài là 2.918.000 đồng/m² (năm 2017, UBND quận T đã thu hồi hủy bỏ Quyết định số 3378/QĐ-UBND ngày 13/6/2011).
Ngày 23/8/2018, Chủ tịch UBND quận T ban hành Quyết định số 4929/QĐ- UBND ngày 23/8/2018 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn Q. Tại Điều 1 Quyết định có nội dung: “Điều chỉnh Quyết định số 1414/QĐ- UBND ngày 09 tháng 3 năm 2018 của UBND quận T về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trong Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum thành phố trên địa bàn phường L, phường L, quận T đối với ông Phạm Văn Q và Quyết định số 3440/QĐ- UBND ngày 13 tháng 6 năm 2018 về việc điều chỉnh một phần nội dung Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09 tháng 3 năm 2018 của Ủy ban nhân dân quận T.
Giao Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận tham mưu UBND quận T áp giá bồi thường, hỗ trợ phần đất diện tích 293,8m² đối với ông Phạm Văn Q đang sử dụng nằm trong ranh giải tỏa cụ thể như sau:
- Bồi thường, hỗ trợ phần đất diện tích 82,2m² (sử dụng trước ngày 15/10/1993) theo đơn giá đất xen kẽ trong khu dân cư 2.918.000 đồng/m².
- Hỗ trợ phần đất diện tích 211,6m² nằm trong hành lang bảo vệ đường ống nước thô D1800 (sử dụng trước ngày 15/10/1993) đất trồng cây lâu năm; vị trí 1; khu vực 1, theo hệ số 100% đơn giá 158.000 đồng/m2.
Thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại nêu trên, ngày 10/10/2018 UBND quận T ban hành Quyết định số 5738/QĐ-UBND về chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ điều chỉnh, bổ sung cho ông Phạm Văn Q với số tiền 226.872.000 (H1 trăm hai mươi sáu triệu, tám trăm bảy mươi hai nghìn) đồng.
Hiện nay, ông Phạm Văn Q chưa đồng ý nhận tiền, số tiền bồi thường, hỗ trợ đang gửi vào tài khoản tạm giữ tại K quận T.
Từ thực tế nêu trên và căn cứ vào những tài liệu hiện có trong hồ sơ, quan điểm của UBND quận T là giữ nguyên Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09/3/2018; Quyết định số 3440/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 và Quyết định số 5738/QĐ-UBND ngày 10/10/2018 của UBND quận T về chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ điều chỉnh, bổ sung của ông Phạm Văn Q.
Người bị kiện Chủ tịch UBND thành phố T trình bày ý kiến tại Văn bản số 3294/UBND-GPMB ngày 21/7/2020 như sau:
Ông Phạm Văn Q có đơn khiếu nại Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09/3/2018 của UBND quận T, tại buổi làm việc với đại diện Thanh tra quận ngày 26/6/2018, ông Phạm Văn Q xác định nội dung khiếu nại: Ông Phạm Văn Q không đồng ý UBND quận T bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất diện tích 293,8m² theo đơn giá 158.000 đồng/m². Ông Q đề nghị UBND quận T Đức áp giá bồi thường đối với phần đất diện tích 293,8m² theo đơn giá đất nông nghiệp xen cài là 2.918.000 đồng/m². Lý do năm 2011, UBND quận T đã lập hồ sơ bồi thường cho ông Nguyễn Đức P theo Quyết định số 3378/QĐ-UBND ngày 13/6/2011 đối với phần đất này theo giá đất nông nghiệp xen cài là 2.918.000 đồng/m² (năm 2017, UBND quận đã thu hồi hủy bỏ Quyết định số 3378/QĐ-UBND ngày 13/6/2011).
Qua xác minh đối với nội dung khiếu nại của ông Q như sau:
Theo điểm a, khoản 7, Mục II, Phần C Phương án số 15/PABT-HĐBT ngày 17/4/2008 của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng của dự án quận quy định:
“7. Trường hợp đất đang sử dụng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP hoặc diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai và khoản 1 Điều 69 Nghị định 181/2004/NĐ-CP nhưng không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất không được bồi thường về đất, nhưng được xét hỗ trợ theo mục đích đang sử dụng như sau:
- Trường hợp đất đưa vào sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993: Mục đích sử dụng là đất nông nghiệp thì được xét hỗ trợ bằng 100% giá các loại đất nông nghiệp do UBND Thành phố quy định và công bố hàng năm. Diện tích để tính hỗ trợ là diện tích đang sử dụng thực tế nhưng không quá 2.000m²/hộ; phần diện tích còn lại (nếu có) không xét hỗ trợ”.
Tại khoản 2 Điều 3 quy định về giá các loại đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ban hành kèm theo Quyết định số 144/2007/QĐ-UBND ngày 27/12/2007 của UBND Thành phố H quy định: Đất trồng cây lâu năm, vị trí 1, khu vực 1: 158.000 đồng/m².
Căn cứ quy định trên, UBND quận áp giá hỗ trợ đối với phần đất diện tích 293,8m² đối với hộ ông Q sử dụng nằm trong ranh giải tỏa với đơn giá 158.000 đồng/m².
Theo Công văn số 570/UBND ngày 13/8/2018 của UBND phường L về việc báo cáo nguồn gốc, quá trình sử dụng nhà, đất của ông Q trong Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước S, thì: Phần đất diện tích 293,8m² của ông Phạm Văn Q sử dụng nằm trong ranh giải tỏa, trong đó: một phần đất diện tích 211,6m² (Theo tài liệu 1995 là thừa có quá trình sử dụng trước ngày 15/10/1993 cho đến nay) nằm trong hành lang bảo vệ đường ống nước thô D1800 và phần đất diện tích 82,2m² (Theo tài liệu 1995 là thửa có quá trình sử dụng trước ngày 15/10/1993 cho đến nay).
Từ các cơ sở nêu trên, căn cứ điểm a, khoản 7, Mục II, Phần C Phương án số 15/PABT-HĐBT ngày 17/4/2008 của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng của dự án quận; khoản 2 Điều 3 quy định về giá các loại đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ban hành kèm theo Quyết định số 144/2007/QĐ-UBND ngày 27/12/2007 của UBND Thành phố H quy định: Đất trồng cây lâu năm, vị trí 1, khu vực 1: 158.000 đồng/m².
Theo Thông báo số 5658/STC-HĐTĐBT-BVG ngày 29/6/2009 của Hội đồng thẩm định bồi thường Thành phố về giải quyết vướng mắc khi tính bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp xen kẽ khu dân cư theo quy định tại Quyết định số 82/2008/QĐ-UBND ngày 01/12/2008 của UBND Thành phố, hướng dẫn: Theo quy định tại Quyết định số 82/2008/QĐ-UBND ngày 01/12/2008 của UBND Thành phố thì đối với đất nông nghiệp (trừ đất lấn, chiếm) trong phạm vi địa giới hành chính phường sẽ được tính là đất nông nghiệp xen kẽ khu dân cư.
Tại khoản 4, Mục IV, Phần C Phương án số 15/PABT-HĐBT ngày 17/4/2008 của Hội đồng bồi thường dự án về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án đầu tư xây dựng hệ thống tiêu thoát nước S thành phố, địa bàn phường L - L, quận T quy định: “Đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư và đất vườn, ao liền kề với đất ở trong khu dân cư: ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp cùng loại (giá đất do UBND Thành phố quy định và công bố hàng năm) còn được hỗ trợ thêm bằng tiền với mức bằng 40% giá đất ở để tính bồi thường có vị trí liền kề, nhưng tổng mức bồi thường và hỗ trợ không vượt quá giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng loại thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường”.
Theo khoản 3, Mục V Phần C Phương án số 15/PABT-HĐBT ngày 17/4/2008 của Hội đồng bồi thường của dự án về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án đầu tư xây dựng hệ thống tiêu thoát nước S thành phố, địa bàn phường L - L, quận T quy định: “Đơn giá đất ở để tính bồi thường: Bảng đơn giá bồi thường đất phi nông nghiệp là đất ở (không trừ nghĩa vụ tài chính): mặt tiền đường L (tiếp giáp với Suối Nhum) đơn giá bồi thường 6.900.000đồng/m²”.
Theo Công văn số 4733/STC-HĐTĐBT-BVG ngày 04/6/2009 của Hội đồng thẩm định bồi thường Thành phố về việc giải quyết vướng mắc tính bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất nằm trong hành lang bảo vệ các tuyến ống cấp nước dọc xa lộ H trên địa bàn Quận B và quận T (đã được UBND Thành phố chấp thuận tại Công văn số 2993/UBND-ĐTMT ngày 23/6/2009) tại Mục 1.4 có nêu:
“2. Về thời điểm công bố phạm vi hành lang tuyến ống nước và vấn đề hỗ trợ thiệt hại về đất: Đối với các tuyến ống nước lọc D1000 từ Nhà máy nước B về Nhà máy T4, tuyến ống nước thô D1800 từ trạm bơm H về nhà máy T4, tuyến ống nước sạch D2000 từ Nhà máy nước T về Ngã 4 H, thời điểm công bố đã có quyết định của Ủy ban nhân dân Thành phố xác định là ngày 30/12/1996 đối với tuyến ống D1000, ngày 03/12/1997 đối với các tuyến ống D1800 và D2000”.
Từ các căn cứ quy định trên, UBND quận đã áp giá hỗ trợ phần đất diện tích 293,8m² đối với ông Q đang sử dụng nằm trong ranh giải tỏa với đơn giá 158.000 đồng/m², là chưa đúng quy định, nên ngày 23/8/2018, Chủ tịch UBND quận T ban hành Quyết định số 4929/QĐ-UBND về giải quyết khiếu nại của ông Q, theo đó giao Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận tham mưu UBND quận T áp giá bồi thường, hỗ trợ phần đất diện tích 293,8m² đối với ông Q đang sử dụng nằm trong ranh giải tỏa cụ thể như sau:
- “- Bồi thường, hỗ trợ phần đất diện tích 82,2m² theo đơn giá đất xen kẽ trong khu dân cư như sau: 6.900.000 đồng/m² x 40% 2.760.000 đồng/m² + 158.000 đồng/m² = 2.918.000 đồng/m².
- + Đơn giá 6.900.000 đồng/m² là đơn giá đất ở mặt tiền đường L;
- + Đơn giá 158.000đồng là đơn giá đất trồng cây lâu năm, vị trí A, khu vực 1.
- Hỗ trợ phần đất diện tích 211,6m² nằm trong hành lang bảo vệ đường ống nước thô D1800 (sử dụng trước ngày 15/10/1993) đất trồng cây lâu năm; vị trí 1; khu vực 1, theo hệ số 100% đơn giá 158.000 đồng/m²”.
Việc ông Q đề nghị UBND quận xem xét áp giá bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất diện tích 211,6m² với đơn giá đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư 2.918.000 đồng/m², là không có cơ sở.
Ngày 23/8/2018, Chủ tịch UBND quận T ban hành Quyết định số 4929/QĐ- UBND ngày 23/8/2018 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn Q. Về trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại, Chủ tịch UBND quận T đã thực hiện theo đúng quy định pháp luật.
Từ thực tế nêu trên và căn cứ vào những tài liệu hiện có trong hồ sơ, quan điểm của Chủ tịch UBND quận T là giữ nguyên Quyết định số 4929/QĐ- UBND ngày 23/8/2018.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà bà Phạm Thị X có người đại diện theo ủy quyền là ông Trần Lê An N1 có cùng ý kiến với người khởi kiện ông Phạm Văn Q.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 2109/2023/HC-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã căn cứ: Điều 30, khoản và khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 206 và Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; Các Điều 62, 63, 66, 67, 68 và 69 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Q về các yêu cầu hủy các quyết định sau:
- - Quyết định số 1412/QĐ-UBND ngày 08/3/2018 của Ủy ban nhân đến quận C về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án kênh tiêu thoát nước Suối Nhum 39. tại phường L và phường L, quận T.
- - Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09/3/2018 của Ủy ban nhân dân quận T về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trong Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum Thành phố trên địa bàn phường L và phường L quận T.
- - Quyết định số 3440/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 của Ủy ban nhân dân quận T v/v điều chỉnh một phần nội dung Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09/3/2018 của Ủy ban nhân dân quận T về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trong Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum Thành phố trên địa bàn phường L và phường L, quận T.
- - Quyết định số 4929/QĐ-UBND ngày 23/8/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn Q.
- - Quyết định số 768/QĐ-UBND ngày 04/3/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn Q, quận T.
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 11/10/2023, người khởi kiện là ông Phạm Văn Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị X có làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp của ông, bà, đề nghị phúc xử theo hướng sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Q.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn Q và người đại diện theo ủy quyền bà Phạm Thị X có cùng ý kiến cho rằng, không có cơ sở xác định phần đất của người khởi kiện nằm trong phần ảnh hưởng của đường ống dự án. Quyết định thu hồi đất để thực hiện Dự án kênh tiêu thoát nước Suối Nhum ban hành vào năm 2006, nhưng trước đó năm 2004 ông Q, bà X đã nhận chuyển nhượng đất của ông T. Như vậy, khi xác định nguồn gốc sử dụng đất thì phải xác định từ lúc ông T sử dụng và ông Q kế thừa, căn cứ các quy định của pháp luật thì ông Q đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng người bị kiện lại cho rằng phần diện tích đất của ông Q không đủ điều kiện cấp giấy dẫn đến sai lầm trong việc bồi thường. Trong quá trình ban hành các quyết định bồi thường, hồ sơ biên bản được nhắc đến trong các quyết định đều là tên ông P chứ không phải bà X, ông Q, sau đó mới có điều chỉnh và khi thực hiện bồi thường không tiến hành kiểm tra, đo đạc lại mà sử dụng các số liệu cũ là có thiếu sót. Trong các quyết định bị khởi kiện đều xác định trường hợp đất này là lấn chiếm để làm căn cứ bồi thường là gây thiệt hại rất nghiêm trọng đến người khởi kiện. Ông Q, bà X chưa từng bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi lấn chiếm, nên cần phải xem xét lại về vấn đề bồi thường đối với hộ của ông Q, bà X là phải bồi thường 82,2m² diện tích đất với đơn giá đất ở và phần diện tích còn lại phải được bồi thường bằng loại đất phi nông nghiệp chứ không phải đất nông nghiệp như các quyết định của Ủy ban đã nêu. Ngoài ra, các quyết định của Ủy ban đã bỏ sót người sử dụng thực tế là bà X, trong Biên bản kiểm đếm năm 2017 thì bà X cũng có nêu ý kiến trong biên bản và xác định bà X là chủ tài sản. Như vậy, các quyết định xác định sai về diện tích, sai nguồn gốc và giá bồi thường; ban hành thiếu đối tượng bị ảnh hưởng. Do đó, ông Q, bà X kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trước đây, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định. Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát cũng đã phân tích toàn bộ các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án cho rằng, các quyết định về thu hồi đất của Ủy ban là đúng quy định. Quyết định số 1414 có sai sót nhưng Ủy ban đã ra Quyết định 3440 điều chỉnh là đúng quy định. Ông Q, bà X kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được chứng cứ gì mới, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Phạm Văn Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị X. Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn Kháng cáo của người khởi kiện là ông Phạm Văn Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị X trong hạn luật định và hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về hình thức, các Quyết định số 1412/QĐ-UBND ngày 08/3/2018 của Ủy ban nhân đến quận T; Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09/3/2018 của Ủy ban nhân dân quận T; Quyết định số 3440/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 của Ủy ban nhân dân quận T; Quyết định số 4929/QĐ-UBND ngày 23/8/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn Q và Quyết định số 768/QĐ-UBND ngày 04/3/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn Q đã được ban hành đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền và trình tự thủ tục ban hành.
[2.2] Về nội dung:
[2.2.1] Để thực hiện Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước S quận T trên địa bàn phường L và phường L, trước khi tiến thu hồi đất, UBND quận T đã xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm tài sản trên đất thu hồi. Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận T đã lập Phương án số 15/PABT-HĐBT ngày 17/4/2008 của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trình UBND quận T. Sau khi thẩm định Phương án số 15/PABT-HĐBT ngày 17/4/2008 của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, nên UBND quận T ban hành Quyết định phê duyệt Phương án số 15/PABT-HĐBT ngày 17/4/2008 của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng.
Ngày 08/3/2018, UBND quận T ban hành Quyết định số 1412/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích đất 298,2m² của hộ ông Q để thực hiện Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum là đúng theo quy định tại các Điều 62, Điều 63, Điều 66, Điều 67, Điều 68 và Điều 69 của Luật Đất đai năm 2013.
[2.2.2] Về diện tích bị thu hồi: Căn cứ các Biên bản kiểm tra xác minh thiệt hại thực tế hiện trạng công trình kênh tiêu thoát nước Suối Nhum năm 2006, ông Nguyễn Đức P xác nhận; Biên bản kiểm đếm đất và tài sản trên đất thuộc phạm vi thu hồi đất để thực hiện dự án ngày 09/3/2017 có chủ tài sản là ông Phạm Văn Q ký xác nhận; Bản đồ hiện trạng vị trí (phục vụ đền bù giải tỏa) số Hợp đồng 243- 1/2017/HĐ-TTKĐ-CNBT ngày 22/9/2017 do Trung tâm kiểm định bản đồ và tư vấn tài nguyên môi trường Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố T2 thực hiện thì đều thể hiện diện tích bị thu hồi của ông Q để thực hiện dự án là 298,2m². Ông Q cho rằng diện tích đất thực tế bị thu hồi của ông lớn hơn so với diện tích ông được bồi thường nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho trình bày của mình nên không có cơ sở chấp nhận.
[2.2.3] Về yêu cầu bồi thường, hỗ trợ:
Căn cứ hợp đồng mua bán đất ngày 19/5/2004 giữa ông Nguyễn Văn T, ông Phạm Văn Q; Căn cứ điểm a, khoản 7, Mục II, Phần C Phương án số 15/PABT- HĐBT ngày 17/4/2008 của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng của dự án quận, khoản 2 Điều 3 quy định về giá các loại đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ban hành kèm theo Quyết định số 144/2007/QĐ-UBND ngày 27/12/2007 của UBND Thành phố H quy định: Đất trồng cây lâu năm, vị trí 1, khu vực 1: 158.000 đồng/m². Ngày 09/3/2018, UBND quận T đã ban hành Quyết định số 1414/QĐ-UBND về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trong Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum theo phương án đã được phê duyệt với đơn giá là 158.000 đồng/m². Sau đó ngày 13/6/2018, UBND quận T ban hành Quyết định số 3440/QĐ-UBND về việc điều chỉnh một phần nội dung Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09/3/2018 của UBND quận T “Từ ông Phạm Văn Q (bà Phạm Thị X trực tiếp sử dụng). T1: Ông Phạm Văn Q”.
Ông Phạm Văn Q khiếu nại các quyết định nêu trên đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T yêu cầu áp giá bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất diện tích 293,8m² với đơn giá theo đất nông nghiệp xen cài là 2.918.000 đồng/m².
Ngày 23/8/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T đã ban hành Quyết định số 4929/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn Q có nội dung: “Giao Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng Quận tham mưu UBND quận T áp giá bồi thường, hỗ trợ phần đất diện tích 293,8m² đối với ông Phạm Văn Q đang sử dụng nằm trong ranh giải tỏa cụ thể như sau:
- Bồi thường, hỗ trợ phần đất diện tích 82,2m² (sử dụng trước ngày 15/10/1993) theo đơn giá đất xen kẽ trong khu dân cư 2.918.000đồng/.
- Hỗ trợ phần đất diện tích 211,6m² nằm trong hành lang bảo vệ đường ống nước thô D1800 (sử dụng trước ngày 15/10/1993) đất trồng cây lâu năm; vị trí 1; khu vực 1, theo hệ số 100% đơn giá 158.000đồng/m²”.
Xét thấy,
Căn cứ Công văn số 570/UBND ngày 13/8/2018 của UBND phường L về việc báo cáo nguồn gốc, quá trình sử dụng nhà đất của ông Q thì: Phần đất diện tích 293,8m² của ông Phạm Văn Q sử dụng nằm trong ranh giải tỏa, trong đó: một phần đất diện tích 211,6m² (Theo tài liệu 1995 là thửa có quá trình sử dụng trước ngày 15/10/1993 cho đến nay) nằm trong hành lang bảo vệ đường ống nước thô D1800 và phần đất diện tích 82,2m² (Theo tài liệu 1995 là thửa có quá trình sử dụng trước ngày 15/10/1993 cho đến nay);
Căn cứ Thông báo số 5658/STC-HĐTĐBT-BVG ngày 29/6/2009 của Hội đồng thẩm định bồi thường Thành phố về giải quyết vướng mắc khi tính bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp xen kẽ khu dân cư theo quy định tại Quyết định số 82/2008/QĐ-UBND ngày 01/12/2008 của UBND Thành phố, hướng dẫn: Theo quy định tại Quyết định số 82/2008/QĐ-UBND ngày 01/12/2008 của UBND Thành phố thì đối với đất nông nghiệp (Trừ đất lấn, chiếm) trong phạm vi địa giới hành chính phường sẽ được tính là đất nông nghiệp xen kẽ khu dân cư,
Căn cứ khoản 4, Mục IV, Phần C Phương án số 15/PABT-HĐBT ngày 17/4/2008 của Hội đồng bồi thường dự án về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án đầu tư xây dựng hệ thống tiêu thoát nước S thành phố, địa bàn phường L - L, quận T quy định: “Đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư và đất vườn, ao liền kề với đất ở trong khu dân cư: ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp cùng loại (giá đất do UBND Thành phố quy định và công bố hàng năm) còn được hỗ trợ thêm bằng tiền với mức bằng 40% giá đất ở để tính bồi thường có vị trí liền kề, nhưng tổng mức bồi thường và hỗ trợ không vượt quá giả chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng loại thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường”;
Căn cứ khoản 3, Mục V Phần C Phương án số 15/PABT-HĐBT ngày 17/4/2008 của Hội đồng bồi thường của dự án về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án đầu tư xây dựng hệ thống tiêu thoát nước S thành phố, địa bàn phường L - L, quận T quy định: “Đơn giá đất ở để tính bồi thường: Bảng đơn giá bồi thường đất phi nông nghiệp là đất ở (không trừ nghĩa vụ tài chính): mặt tiền đường L (tiếp giáp với Suối Nhum) đơn giá bồi thường 6.900.000đồng/m²”;
Căn cứ Công văn số 4733/STC-HĐTĐBT-BVG ngày 04/6/2009 của Hội đồng thẩm định bồi thường Thành phố về việc giải quyết vướng mắc tính bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất nằm trong hành lang bảo vệ các tuyến ống cấp nước dọc xa lộ H trên địa bàn Quận B và quận T (đã được UBND Thành phố chấp thuận tại Công văn số 2993/UBND-ĐTMT ngày 23/6/2009) tại Mục 1.4 nêu: “2. Về thời điểm công bố phạm vi hành lang tuyến ống nước và vấn đề hỗ trợ thiệt hại về đất: Đối với các tuyến ống nước lọc D1000 từ Nhà máy nước B về Nhà máy T4, tuyến ống nước thô D1800 từ trạm bơm H về nhà máy T4, tuyến ống nước sạch D2000 từ Nhà máy nước T về Ngã 4 H, thời điểm công bố đã có quyết định của Uỷ ban nhân dân Thành phố xác định là ngày 30/12/1996 đối với tuyến ống D1000, ngày 03/12/1997 đối với các tuyến ống D1800 và D2000";
Như vậy, việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T đã ban hành Quyết định số 4929/QĐ-UBND điều chỉnh Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09 tháng 3 năm 2018 của Ủy ban nhân dân quận T và Quyết định số 3440/QĐ-UBND ngày 13 tháng 6 năm 2018 với nội dung nêu trên là đúng quy định.
Mặt khác, để thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND quận T, ngày 10/10/2018 UBND quận T ban hành Quyết định số 5738/QĐ-UBND về chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ điều chỉnh, bổ sung cho ông Phạm Văn Q với số tiền 226.872.000 đồng.
Từ những phân tích nêu trên, ngày 04/3/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 768/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn Q giữ nguyên Quyết định số 4929/QĐ-UBND ngày 23/8/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T là có căn cứ.
[3] Xét thấy tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Q về việc hủy các quyết định nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện ông Phạm Văn Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị X kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được chứng cứ nào mới nên không có cơ sở chấp nhận. Phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên ông Q, bà X phải chịu án phí phúc thẩm theo luật định. Bà Phạm Thị X là người cao tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm theo luật định.
[6] Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn Q và bà Phạm Thị X.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 2109/2023/HC-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Áp dụng Điều 30, khoản và khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 206 và Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; Các Điều 62, Điều 63, Điều 66, Điều 67, Điều 68 và Điều 69 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Q về các yêu cầu hủy các quyết định sau:
- - Quyết định số 1412/QĐ-UBND ngày 08/3/2018 của Ủy ban nhân đến quận C về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án kênh tiêu thoát nước Suối Nhum 39. tại phường L và phường L, quận T.
- - Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09/3/2018 của Ủy ban nhân dân quận T về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trong Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum Thành phố trên địa bàn phường L và phường L quận T.
- - Quyết định số 3440/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 của Ủy ban nhân dân quận T v/v điều chỉnh một phần nội dung Quyết định số 1414/QĐ-UBND ngày 09/3/2018 của Ủy ban nhân dân quận T về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trong Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước Suối Nhum Thành phố trên địa bàn phường L và phường L, quận T.
- - Quyết định số 4929/QĐ-UBND ngày 23/8/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn Q.
- - Quyết định số 768/QĐ-UBND ngày 04/3/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn Q, quận T.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Phạm Văn Q chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo Biên lai thu số AA/2022/0004249 ngày 14/11/2023 tại Cục Thi hành ánh dân sự tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, ông Q đã nộp xong án phí hành chính phúc thẩm.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Mười |
Bản án số 831/2024/HC-PT ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai về bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất
- Số bản án: 831/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai về bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
