Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 831/2024/DS-PT

Ngày: 25 - 9 - 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng

đất, hủy giấy chứng nhận

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng

Ông Chung Văn Kết

- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 và 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 215/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 3 năm 2023 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 2644/2023/DS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5754/2024/QĐPT ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1923 (đã chết tháng 10/2023).
  2. Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông H:

    • 1.1 Bà Lê Thị T, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số F A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt);
    • 1.2. Bà Lê Thị H1, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số F A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt);
    • Người đại diện theo uỷ quyền; Ông Nguyễn N, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số E đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt);

    • 1.3 Bà Lê Thị Q, sinh năm 1962. (có mặt);
    • 1.4 Ông Lê Văn C, sinh năm 1970 (Có đơn xin vắng mặt);
    • 1.5 Bà Lê Thị H2, sinh năm 1964 (Có đơn xin vắng mặt);
    • 1.6 Bà Lê Thị T1, sinh năm 1952 (vắng mặt);
    • Cùng địa chỉ: B B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Ngọc H3 – Thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. (có mặt);

  3. Bị đơn: Ông Sy H4, sinh năm 1974 và bà Tsần Mai Y, sinh năm 1974. Cùng địa chỉ: I A, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt);
  4. Người đại diện hợp pháp: Ông Võ Đức Duy H5, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số A đường C, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy uỷ quyền ngày 28/3/2023 tại Văn phòng C2). (có mặt)

  5. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • Bà Lê Thị T, sinh năm 1956. Địa chỉ: F A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Bà Lê Thị H1, sinh năm 1968. Địa chỉ: F A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Người đại diện hợp pháp của bà T, bà H1: Ông Nguyễn N, sinh năm 1981. Địa chỉ: E đường H Phường A Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 33615 ngày 11/12/2020 lập tại Văn phòng C3). (Có mặt).

    • Bà Lê Thị Q, sinh năm 1962 (Có mặt);
    • Ông Lê Văn C, sinh năm 1970 (Có đơn xin vắng mặt);
    • Bà Lê Thị H2, sinh năm 1964 (Có đơn xin vắng mặt);
    • Cùng địa chỉ: Số B B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

    • Bà Lê Thị T1, sinh năm 1952. (vắng mặt);
    • Địa chỉ: Số B B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

    • Trẻ Sy Thế L, sinh năm 2006;
    • Người đại diện theo pháp luật: Ông Sy H4 và bà Tsần Mai Y (Có đơn xin vắng mặt);

      Địa chỉ: Số I A, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

    • Bà Sy Thế T2, sinh năm 1999. Địa chỉ: I A, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Người đại diện hợp pháp của bà T2: Ông Võ Đức Duy H5, sinh năm 1976. Địa chỉ: 1 đường C, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 2330 ngày 28/03/2023 lập tại Văn phòng C2). (Có mặt).

    • Trẻ Nguyễn Anh Đ, sinh năm 2019;
    • Địa chỉ: I A, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Người đại diện theo pháp luật của trẻ Đ: Bà Sy Thế T2, sinh năm 1999; Địa chỉ: I A, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. (Xin vắng mặt).

    • Ủy ban nhân dân Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ: A C, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Bá M – Chuyên viên phòng T6 (Theo giấy uỷ quyền số 2120/QĐ-UBND ngày 25/5/2023). (Có mặt).

- Người kháng cáo: Bà Lê Thị T; Lê Thị Q; Lê Thị T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và trong quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn trình bày:

Ông Lê Văn H và bà Châu Thị K có tài sản chung là toàn bộ nhà đất thuộc Bằng khoán điền thổ số 178 và 179 “Chợ Lớn - P” số 67 tờ 3 hộ 14, có tổng diện tích là 2380m² tọa lạc tại góc đường A - B thuộc tổ C Khu phố C Phường A, Quận F Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên nguồn gốc nhà đất thuộc bằng khoán điền thổ số 179 “Chợ Lớn - P” số 67 tờ 3 hộ 14, có diện tích 2040m² tọa lạc tại góc đường A - B thuộc tổ C Khu phố C Phường A Quận F Thành phố Hồ Chí Minh là của bà Phan Thị L1. Năm 1958, bà Phan Thị L1 bán (Đoạn mãi) cho bà Trần Thị Đ1.

Sau đó, bà Trần Thị Đ1 có vay 25.000 ngàn đồng của bà Cao Thị H6 nhưng không trả được, đến ngày 14/11/1961, bà Cao Thị H6 có nhờ thừa phát lại là ông Nguyễn Hữu Trương T3 lệnh trả nợ có hiệu lực. Theo Tờ lược giải Bằng khoán điền thổ số BK 179 có đoạn “Ông thừa phát lại nói trên có truyền lệnh cho Bà Trần Thị Đ1, ngụ tại số F hẻm B đường B phải lập tức trả số bạc 25.000 và các chi phí linh tinh mà Tòa Sơ thẩm Sài Gòn trong bản án khuyết tịch số 713-A/61 đề ngày 21/6/1961 có dạy bị đơn Trần Thị Đ1 phải trả cho nguyên đơn Cao Thị H6 số bạc 25.000 và tiền lời theo luật (5% một năm) kể từ ngày nạp đơn khởi tố cho đến khi trả tất, bản án nói trên không bị kháng cáo hay là kháng tố. Quá hạn 15 ngày sẽ thi hành cưỡng chế phát mãi bất động sản số A khu C - P thuộc quyền sở hữu của bà Trần Thị Đl”. Do bà Trần Thị Đ1 không trả được nợ nên phần bất động sản số 179 bị phát mãi đem bán đấu giá. Cũng theo tờ lược giải Bằng khoán điền thổ số BK 179, năm 1962 bà Cao Thị H6 và chồng là ông Nguyễn Văn T4 thông qua đấu giá “Nhận chịu mua bất động sản số 179 Chợ L-P, gồm một sở đất đạc thành 2040m² và một cái nhà ngói đệ tam nhân” với giá 116.000 ngàn đồng.

Vào ngày 15/07/1974, gia đình bà Cao Thị H6, ông Nguyễn Văn T4 “bán đứt và trọn” cho ông Lê Văn H với giá 500.000 ngàn đồng theo lược giải văn kiện Bằng khoán số 179. Trong văn bản đoạn mãi của Phòng chưởng khế ngày 15/7/1974, cũng thể hiện rõ gia đình ông Nguyễn Văn T4 bán cho ông Lê Văn H.

Vào ngày 19/12/1977, bà Châu Thị K (Vợ ông Lê Văn H) có lập bản kê khai đăng ký căn nhà số B B với diện tích nhà là 549m² (gồm căn nhà B B và một phần đất trống sau nhà 284 do 4 hộ hồi hương năm 1975 về Đ trả đất lại gồm hộ số 286/6, 286/8, 286/10, 286/12a B (số nhà cũ), chưa bao gồm diện tích đất xung quanh nhà do gia đình nguyên đơn sử dụng theo bằng khoán điền thổ số 178, 179.

Vào năm 1982, bà Trần Thị Đ1 (người bị đem phần bất động sản số 179 bán đấu giá) ngụ số 286/6/3 B (số mới 900 A), chiếm phần đất trống sau lưng nhà số 286/6/3 Bà Hom thuộc bằng khoán điền thổ BK 179 để dựng cây cất nhà diện tích khoảng 18m². Gia đình ông H phát hiện và yêu cầu bà Trần Thị Đ1 ngưng xây cất và buộc tháo dỡ.

Đến năm 1998, bà Hà Thị S (là cháu của bà Trần Thị Đ1) tiếp tục chiếm sử dụng nhà đất sau lưng căn nhà 286/6/3 B (số mới 900 A), là phần nhà đất mà gia đình nguyên đơn đã phát hiện và buộc tháo dỡ ở trên. Sau đó, bà Hà Thị S theo cha mẹ về quận B ở, để lại căn nhà cất tạm trên (số mới 902 A) cho bà Hà Thị B sử dụng. Hiện nay, nhà đất tại số nhà I A, Phường A, Quận F lại có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với người đứng tên là ông Sy H4 và bà Tsần Mai Y là vợ chồng em rể bà B. Căn nhà này nằm trong phần đất của gia đình nguyên đơn thuộc Bằng khoán điền thổ BK 179; mặc dù phần đất này đã bị thưa kiện, khiếu nại nhiều lần ở Ủy ban nhân dân Phường A Quận F từ năm 1998, năm 1999, đến nay vẫn còn đang tranh chấp nhưng Ủy ban nhân Quận F đã cấp phép xây dựng ba tầng lầu cho ông Sy H4 khi chưa giải quyết xong yêu cầu tranh chấp là xâm phạm đến quyền lợi của gia đình nguyên đơn. Ngoài ra ông Sy H4 còn chiếm thêm phần đất phía trước nhà diện tích khoảng 41,22m². Phần đất này cũng thuộc Bằng khoán điền thổ số 179 do gia đình nguyên đơn quản lý và sử dụng.

Vào ngày 02/8/1999, bà Châu Thị K kê khai đăng ký nhà đất cho căn nhà số B với diện tích 2380m² bao gồm phần diện tích đất thuộc Bằng khoán điền thổ số 178 cùng với B1 khoán điền thổ số BK 179. Trong tờ khai đăng ký nhà đất năm 1999, bà K có khai phần đất bị chiếm bởi ông Hà Văn H7, ông Bành Văn T5 (Bông) và ông Hà Văn B2.

Ngày 18/12/2003, Sở T7 cung cấp bản trích sao điền thổ xác định gia đình ông Lê Văn H có 2 thửa đất BK 178 có 340m² và BK 179 lô số 67 tờ bản đồ thứ 3 hộ 14 tọa lạc tại Chợ L - P với diện tích 2040m². Ông Lê Văn H có đóng thuế nhiều năm cho toàn bộ thửa đất thuộc Bằng khoán điền thổ số BK 178 và BK 179.

Từ năm 1982 đến nay, rất nhiều hộ dân chiếm dụng đất của gia đình nguyên đơn để cất nhà, gia đình nguyên đơn có xin rào lại nhưng Ủy ban nhân dân Phường A không chấp thuận cho rào lại nên bị nhiều hộ dân lấn chiếm. Điển hình nhất là các con cháu hộ bà Trần Thị Đ1 và ông Bành Văn Đ2 ngụ số 286/6/3 B, từ nguồn gốc chỉ có một căn nhà đã bị phát mãi vào năm 1962, nhưng sau nhiều năm lấn chiếm ra thành bốn căn nhà. Do đó, ông Lê Văn H, có những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng yêu cầu Tòa án:

- Buộc ông Sy H4 và bà Tsần Mai Y trả lại cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng ông H toàn bộ phần đất đã chiếm khoảng 58,32m² (ngang 3,6m dài 11,45m), tạm tính 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng) phần đất này thuộc Bằng khoán điền thổ số BK 179.

- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tại số nhà I A, Phường A, Quận F (thuộc thửa đất số 7, tờ bản đồ số 34 BĐĐC-2001 P13/Q6) mà Ủy ban nhân dân Quận F cấp giấy chứng nhận ngày 06/4/2013 cho ông Sy H4 và bà Tsần Mai Y làm chủ sở hữu.

Tại buổi hòa giải ngày 24/8/2023, đại diện nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể đề nghị Tòa án buộc ông Sy H4 và bà Tsần Mai Y trả lại cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H, bà K toàn bộ phần đất đã chiếm có diện tích 50.4m² (Theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H lập ngày 18/7/2023).

Trong trường hợp Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì nguyên đơn tự nguyện thanh toán lại toàn bộ giá trị công trình xây dựng trên đất cho bị đơn theo Chứng thư thẩm định giá số 010823/CT-TNV ngày 01/8/2023 do Công ty T8 lập.

Phía bị đơn trình bày: Vào năm 1998, vợ chồng ông Sy H4- bà Tsần Mai Y có nhận chuyển nhượng căn nhà có địa chỉ 286/6/3 B, Phường A, Quận F, Thành Phố Hồ Chí Minh có diện tích 4m X 12m= 48m² từ bà Bành Thị Đ3 (sinh ngày 03/02/1932- chết ngày 3/2/2005) với giá 7 lượng vàng 9999 bằng hợp đồng tự lập không công chứng chứng thực, ông H4-bà Y đã thanh toán cho bà Đ3 đầy đủ số tiền theo thỏa thuận và nhận bàn giao căn nhà trên để sử dụng. Căn nhà trên có nguồn gốc từ cha mẹ của bà Đ3 là ông Bành Văn Đ2 và bà Trần Thị Đ1 quản lý và sử dụng trước năm 1975 và cho bà Đ3 vào năm 1979.

Đến năm 2017, ông H4-bà Y đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất căn nhà trên. Căn nhà hiện nay có địa chỉ là I A, Phường A, Quận F, TP . và được Ủy ban nhân dân Quận F, TP. cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CI312293, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 30133 ngày cấp 25/09/2017.

Tháng 1/2020, ông H4-bà Y xin phép xây dựng đối với căn nhà trên và được Ủy ban nhân dân Quận F cấp giấy phép xây dựng có thời hạn số 45/GPXDT ngày 30/01/2020 với nội dung cho phép ông H4-bà Y được xây dựng tầng trệt, lửng, 2 lầu, mái Bê tông cốt thép với diện tích sàn xây dựng là 72,4m², chiều cao công trình 13,6m.

Căn cứ vào giấy phép xây dựng được cấp, ngày 14/02/2020, ông H4-bà Y ký kết hợp đồng thi công số 2020/HĐTCMPH/CM- /2020 về việc ép cọc bê tông cốt thép với Công Ty TNHH Đ4 để thực hiện việc ép cọc móng cho căn nhà đã được cấp phép. Sau đó ông H4-bà Y tiến hành việc xây dựng theo hiện trạng như hiện tại.

Đến tháng 06/2020, ông H4-bà Y đã hoàn tất việc xây dựng và đưa vào sử dụng. Sau đó, ông H4-bà Y có nhờ Công Ty Cổ Phần Đ5 bản vẽ hoàn công và đã được Thanh tra xây dựng lập biên bản kiểm tra công trình ngày 05/06/2020 xác nhận việc tuân thủ quy định về xây dựng của gia đình ông H4 đối với công trình nhà ở riêng lẻ.

Trong suốt quá trình sinh sống và xây dựng căn nhà trên, ông H4-bà Y luôn tuân thủ các quy định của pháp luật.

Về việc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H khởi kiện buộc ông H4-bà Y phải có nghĩa vụ trả lại cho ông H phần diện tích đất có diện tích 58,32m² (ngang 3,6m; dài 11,45m) và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CI312293, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 30133 ngày cấp 25/09/2017 mà Ủy ban nhân dân Quận F đã cấp cho ông H4-bà Y là không có cơ sở. Ông H4-bà Y đề nghị Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H, công nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho bị đơn.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị T, bà Lê Thị Q, bà Lê Thị T và bà Lê Thị H1 (ủy quyền cho ông Nguyễn N), bà Lê Thị H2, bà Lê Thị T1, ông Lê Văn C cùng trình bày: Do nguyên đơn, ông Lê Văn H đã chết trong quá trình giải quyết vụ án; ông bà là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn vẫn tiếp tục yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trước đây.

Ông Võ Đức Duy H5 là đại diện hợp pháp của bà Sy Thế T2 trình bày: Thống nhất với ý kiến của đại diện bị đơn.

Ông Sy H4 là người đại diện theo pháp luật của trẻ Sy Thế L trình bày: Thống nhất với ý kiến của bị đơn.

Bà Sy Thế T2 đại diện theo pháp luật của trẻ Nguyễn Anh Đ trình bày: Đề nghị Tòa xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xin vắng mặt tại các buổi hoà giải, công khai chứng cứ, xét xử các cấp.

Ủy ban nhân dân Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh có người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Bá M trình bày:

Theo Công văn số 515/UBND ngày 04/8/2017 của Ủy ban nhân dân Phường A Quận F thì nguồn gốc quá trình sử dụng căn nhà số I A (số cũ: 286/6/3 B), Phường A Quận F do bà Trần Thị Đ1 sử dụng trước đây làm nhà bếp và sau đó cho lại bà Bành Thị Đ3 theo Giấy ủy quyền 03 căn nhà cho lại ba người con được Ủy ban nhân dân Phường A Quận F xác nhận chữ ký của bà Trần Thị Đ1 ngày 01/11/1989.

Năm 1992, bà Đ3 sửa chữa lại nhà và cho bà Hà Thị B ở căn nhà này. Năm 2002, bà B có tự xây dựng tường xung quanh căn nhà cao khoảng 1m và làm thêm gác gỗ lửng tạm sử dụng để đồ đạc trong gia đình.

Năm 2003, Tòa án nhân dân Quận 6 ra Quyết định đình chỉ vụ án dân sự số 40/ĐC-DS ngày 16/4/2003 giữa bà Bành Thị Đ3 và ông B3 văn T5 về việc tranh chấp thừa kế.

Năm 2005, Tòa án nhân dân Quận 6 có Bản án dân sự sơ thẩm số 01/DSST ngày 04/01/2005 về việc xét xử sơ thẩm vụ án “Đòi tài sản bị chiếm đoạt” giữa ông Bành Văn T5 với bà Bành Thị Đ3. Do Bản án số 01/DSST ngày 04/01/2005 có kháng cáo nên Tòa án nhân dân Quận 6 đã chuyển toàn bộ hồ sơ lên Tòa án nhân dân thành phố để giải quyết theo thẩm quyền giữa ông Bành Văn T5 với bà Bành Thị Đ3 theo Công văn số 01/BKC ngày 11/01/2005.

Ngày 03/02/2005, bà Bành Thị Đ3 mất.

Ngày 28/6/2005, Tòa án nhân dân thành phố ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự số 13496/2005/QĐĐC-PTDS về việc “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản” giữa ông Bành Văn T5 với bà Bành Thị Đ3.

Ngày 10/10/2007, gia đình ông Hà Văn B2 (ông B2 là chồng bà Đ3) và các con đồng ý bán lại căn nhà trên cho ông Sy H4 và bà Tsần Mai Y Hợp đồng mua bán nhà bằng giấy tay.

Ngày 15/5/2013, Ủy ban nhân dân Phường A Quận F có Công văn số 434/UBND gửi Tòa án nhân dân quận 6 về việc đề nghị phúc đáp nội dung đơn khiếu nại của ông Lê Văn H cư ngụ tại số B đường B, Phường A Quận F.

Ngày 20/5/2013, Tòa án nhân dân Quận 6 trả lời cung cấp thông tin theo Công văn số 236/TAQ6 trả lời: qua kiểm tra hồ sơ lưu trữ từ năm 2005 đến nay, Tòa án không có thụ lý, giải quyết hộ Nguyễn Thị B4 và ông Sy H4. Riêng năm 2005, Tòa án nhân dân Quận 6 có thụ lý giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm giữa nguyên đơn là ông Bành Văn T5; bị đơn bà Bành Thị Đ3 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Hà Thị B; ông Hà Văn H7; bà Bành Thị C1; ông Lê Văn H. Do Bản án số 01/DSST ngày 04/01/2005 có kháng cáo nên Tòa án nhân dân Quận 6 đã chuyển toàn bộ hồ sơ lên Tòa án nhân dân thành phố để giải quyết theo thẩm quyền.

Tờ đăng ký nhà, đất năm 1999 do bà Bành Thị Đ3 đứng tên kê khai.

Ngày 10/11/2004, Ủy ban nhân dân Phường A Quận F có Thông báo đổi số 3891/TB-UB với số nhà mới 902 A (số nhà cũ: 286/6/3 B), Phường A Quận F cho bà Hà Thị B.

Năm 2014, ông Sy H4 có đơn xin cấp Giấy chứng nhận tại căn nhà trên được Ủy ban nhân dân Quận F trả hồ sơ theo Công văn số 3010/UBND-TNMT ngày 03/10/2014 và Công văn số 3675/UBND-TNMT ngày 28/11/2014 hoàn trả hồ sơ với nội dung: đề nghị ông Sy H4 bổ sung ý kiến của bà Bành Thị C1 về việc ông Sy H4 và bà Tsần Mai Y đứng tên xin cấp Giấy chứng nhận tại căn nhà trên và Ủy ban nhân dân Phường A Quận F xác định được lối đi của căn nhà số I A, chứng từ chứng minh không tranh chấp lối đi và bổ sung bản vẽ sơ đồ nhà đất có thể hiện lối đi vào tại căn nhà trên thì Ủy ban nhân dân Quận F sẽ xem xét giải quyết cấp Giấy chứng nhận theo quy định.

Năm 2017, ông Sy H4 và vợ Tsần Mai Y tiếp tục có đơn xin cấp giấy chứng nhận tại căn nhà trên được UBND Quận 6 trả hồ sơ theo Công văn số 3675/UBND-TNMT ngày 28/11/2014 với nội dung: chưa xem xét giải quyết và hoàn trả toàn bộ hồ sơ, đề nghị Ủy ban nhân dân Phường A hướng dẫn ông H4 có thỏa thuận với chủ sử dụng đất thửa 35 để giải quyết lối đi riêng biệt cho căn nhà. Lập lại bản vẽ sơ đồ nhà đất thể hiện rõ lối đi riêng (nếu có), đồng thời lập thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận theo quy định.

Căn cứ Công văn số 515/UBND thì căn nhà trên hiện có lối đi riêng và lối đi này nằm hoàn toàn trong lộ giới đường A và không có liên quan đến chủ đăng ký sử dụng thửa đất số 35, tờ Bản đồ số 7.

Ngày 31/8/2017, Ủy ban nhân dân Phường A Quận F có Công văn số 591/UBND về giải quyết cấp giấy chứng nhận căn nhà trên ghi nhận: Phần diện tích đất không công nhận lối đi nằm hoàn toàn trong lộ giới đường A và phần đất này do Nhà nước trực tiếp quản lý (thuộc thửa đất số 35, tờ Bản đồ số 7).

Theo Bản án số 01/DSST ngày 01/10/2005 của Tòa án nhân dân Quận 6 thì diện tích khiếu nại 17,38m² do bà Hà Thị B sử dụng (phần diện tích này trước đây mẹ bà Đ3 cho phần diện tích nhà bếp 4m x 4,8m). Năm 1992, bà Đ3 và bà B sửa chữa nhà có mở rộng ra phía trước đường A diện tích khoảng 8m² (thuộc thửa đất số số 34, tờ Bản đồ số 7, diện tích khoảng 26,5m²).

Căn nhà số B B, Phường A do ông Bành Văn T5 sử dụng (số mới 902 A phường A).

Căn nhà bà Hà Thị B sử dụng đã bán lại cho ông Sy H4 hiện không có tranh chấp, khiếu nại.

Căn nhà trên không có quyết định xử phạt vi phạm về xây dựng.

Từ những cơ sở pháp lý trên, Ủy ban nhân dân Quận F khẳng định việc cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH30133 ngày 25/9/2017 cho ông Sy H8 và bà Tsần Mai Y, với DTD=DTXD= DTSXD=17,1m² là đúng quy định pháp luật (công nhận theo Khoản 1 Điều 20, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai).

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 2644/2023/DS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Căn cứ Điều 34, Điều 37, Điều 147, Điều 155, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;

Luật đất đai năm 1987, năm 1993, năm 2003, năm 2013;

Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;

Căn cứ Điều 12, Điều 24, Điều 25, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án; Danh mục án phí lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016);

Luật người cao tuổi;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Lê Văn H gồm có bà Lê Thị T1, bà Lê Thị T, bà Lê Thị Q về việc:
  2. Buộc ông Sy H4 và bà Tsần Mai Y trả lại cho ông H, bà K toàn bộ phần đất đã chiếm diện tích 50.4m² (Theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H lập ngày 18/7/2023) thuộc Bằng khoán điền thổ số BK 179.

    Và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tại số nhà I A, Phường A, Quận F (thuộc thửa đất số 7, tờ bản đồ số 34 BĐĐC-2001 P13/Q6) do Ủy ban nhân dân Quận F cấp ngày 06/4/2013 cho ông Sy H4 và bà Tsần Mai Y.

    Đình chỉ yêu cầu giải quyết tranh chấp của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn gồm có bà Lê Thị H1, ông Lê Văn C, bà Lê Thị H2 do bà H1, ông C, bà H2 đã rút yêu cầu.

    Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định

Ngày 09/01/2024, bà Lê Thị T; Lê Thị Q; Lê Thị T1 kháng cáo toàn bộ Bản án, yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của ông Lê Văn H.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Lê Thị Q và người đại diện theo uỷ quyền của người kháng cáo giữ yêu cầu kháng cáo. Bà Q, ông N và Luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông H đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện vì trước đây ông H đã thưa kiện tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhiều lần, thể hiện quá trình tranh chấp đất liên tục; bà Trần Thị Đ1 là người đã bị phát mãi đất để trả nợ và ông H đã mua lại phần đất trên; sau này do bà Đ1 chiếm đất lại nên không phải là đất có nguồn gốc do bà Đ1 để lại cho bà Bành Thị Đ3 nên việc ông H4 và bà Y chuyển nhượng nhà đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng quy định của pháp luật. Vì diện tích đất đang tranh chấp đã có yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết liên tục lâu dài nên việc F cho rằng đất không tranh chấp và cấp giấy chứng nhận là không phù hợp thực tế.

- Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày: Không đồng ý kháng cáo của bà T, bà Q, bà T1 vì diện tích đất đang tranh chấp vào năm 2007, ông H4 bà Y có nhận chuyển nhượng căn nhà có địa chỉ 286/6/3 B, Phường A, Quận F, Thành Phố Hồ Chí Minh (nay có địa chỉ là I A, Phường A, Quận F) diện tích 4m X 12m= 48m² từ bà Bành Thị Đ3; đã thanh toán cho bà Đ3 đầy đủ số tiền theo thỏa thuận và nhận bàn giao căn nhà trên. Do nhà xuống cấp, nên ông bà không dọn vào ở ngay. Đến năm 2017, ông H4-bà Y đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và được Ủy ban nhân dân Quận F, TP . cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CI312293, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 30133 ngày cấp 25/09/2017 là phù hợp quy định của pháp luật.

- Đại diện Ủy ban nhân dân Quận F xác định: Ủy ban nhân dân Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CI312293, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 30133 ngày cấp 25/09/2017 cho ông H4-bà Y là đúng quy định, có xem xét quá trình đăng ký kê khai quyền sử dụng đất của chủ đất củ là gia đình Bành Văn Đ2, bà Bành Thị Đ3 cũng như khi bà Đ3 chuyển nhượng cho ông H4-bà Y.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau: Sau khi phân tích các chứng cứ và yêu cầu của người khởi kiện, đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị T, bà Lê Thị Q và bà Lê Thị T1, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Lê Thị T, bà Lê Thị Q và bà Lê Thị T1 được làm đúng thời hạn, hình thức nội dung đảm bảo theo quy định pháp luật. Bà Lê Thị T1 có đơn yêu cầu tiếp tục hoãn phiên toà do bà bị tai nạn phải phẫu thuật kết hợp xương đùi bằng nẹp vị, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngày 14/8/2024 phiên toà được mở lần thứ 2 nhưng bà T1 bị tai nạn ngày 12/8/2024 nên không thể dự phiên toà nên Hội đồng xét xử đã chấp nhận hoãn phiên toà theo yêu cầu của bà T1. Bà T1 đã xuất viện ngày 30/8/2024 và tái khám ngày 18/9/2024, bà T1 không cung cấp giấy yêu cầu phải nhập viện điều trị nên Hội đồng xét xử tiếp tục mở phiên toà và xét xử vắng mặt bà T1.

[2]. Về nội dung: Nguồn gốc đất tranh chấp vào năm 1974, cụ Lê Văn H mua của cụ Nguyễn Văn T4 phần diện tích theo bằng khoán 179 là 2040m². Tuy nhiên, từ sau 30/4/1975 cụ H không quản lý sử dụng toàn bộ diện tích nêu trên mà trên thực tế có các hộ dân khác ở, xây dựng nhà như căn nhà số B, nhà 286/12/2, nhà B, nhà B, nhà 286/6/11, nhà 286/6/15, nhà 286/6/14, nhà B, nhà B, nhà B, nhà B, nhà 286. Diện tích đất tại căn nhà 286/6/3 B (số mới là I A), Phường A, Quận F, Thành Phố Hồ Chí Minh đang tranh chấp nêu trên có nguồn gốc từ cha mẹ của bà Đ3 là ông Bành Văn Đ2 và bà Trần Thị Đ1 quản lý và sử dụng trước năm 1975 và cho bà Đ3 vào năm 1979. Năm 2007, vợ chồng ông Sy H4 và bà Tsần Mai Y nhận chuyển nhượng căn nhà nêu trên từ bà Đ3, vợ chồng ông H4 sử dụng ổn định và có xin phép sửa chữa lại như hiện tại. Năm 2017, ông H4-bà Y đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất căn nhà trên và được và được Ủy ban nhân dân Quận F, TP . cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CI312293, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 30133 ngày cấp 25/09/2017 là có xảy ra trên thực tế.

[3]. Xét kháng cáo của bà Lê Thị T, bà Lê Thị Q và bà Lê Thị T1, yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của cụ Lê Văn H, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Căn cứ vào quá trình sử dụng đất tại căn nhà 286/6/3 B (số mới là I A), Phường A, Quận F, Thành Phố Hồ Chí Minh đang tranh chấp nêu trên do cụ Bành Văn Đ2 và cụ Trần Thị Đ1 quản lý và sử dụng trước năm 1975 và cho bà Đ3 vào năm 1979. Năm 2007, vợ chồng ông Sy H4 và bà Tsần Mai Y nhận chuyển nhượng căn nhà nêu trên từ gia đình bà Đ3, vợ chồng ông H4 sử dụng ổn định cho đến nay.

Căn cứ biên bản làm việc ngày 16/5/2003 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận F Thành phố Hồ Chí Minh về việc khiếu nại của ông Lê Văn H và bà Châu Thị K về việc trả lại tiền đất thuộc bằng khoán đất 178 và 179; biên bản làm việc ngày 26/8/2005 tại A Quận F;

Căn cứ Điều 1 Luật Đất đai 1987 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý...” và khoản 5 Điều 14 quy định: “Người sử dụng đất không sử dụng đất được giao trong 6 tháng liền”.

Căn cứ Điều 2 Luật đất đai năm 1993 quy định: “Người sử dụng đất ổn định, được UBND xã phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”;

Khoản 2 quy định: “Nhà nước không chấp nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và Nhà nước C4;

Từ những căn cứ trên thấy rằng diện tích đất đang tranh chấp, từ sau ngày 30/4/1975, ông H và bà K không quản lý sử dụng đất và không đăng ký kê khai quyền sử dụng đất diện tích đát tranh chấp do cụ Đ2, cụ Đ1 sử dụng, sau đó cho con là bà Bành Thị Đ3 và gia đình bà Đ3 chuyển nhượng lại ông Sy H4- bà Tsần Mai Y. Quá trình quản lý sử dụng, gia đình ông Đ2 và ông H4 có đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo quy định và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Lê Văn H cũng như không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người thừa kế quyền và nghĩa vụ của cụ H về việc buộc bị đơn trả lại phần diện tích đất 50,4m² là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bà Lê Thị T, bà Lê Thị Q và bà Lê Thị T1 kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ để được chấp nhận kháng cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là giữ nguyên án sơ thẩm.

[4]. Xét kháng cáo yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tại số nhà I A, Phường A, Quận F (thuộc thửa đất số 7, tờ bản đồ số 34 BĐĐC-2001 P13/Q6) mà Ủy ban nhân dân Quận F cấp giấy chứng nhận ngày 06/4/2013, Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ công văn số 515/UBND ngày 04/8/2017 của Ủy ban nhân dân Phường A Quận F về nguồn gốc và quá trình sử dụng căn nhà số I A (số cũ: 286/6/3 B), Phường A Quận F là do bà Trần Thị Đ1 trước đây sử dụng làm nhà bếp và sau đó cho lại bà Bành Thị Đ3; Căn cứ tờ đăng ký nhà, đất năm 1999 do bà Bành Thị Đ3 đứng tên kê khai; Căn cứ Thông báo đổi số nhà số C-UB ngày 10/11/2004 của Ủy ban nhân dân Phường A Quận F, số nhà M A (số nhà cũ: 286/6/3 B), Phường A Quận F cho bà Hà Thị B; Căn cứ Bản án số 01/DSST ngày 01/10/2005 của Tòa án nhân dân Quận 6 thì diện tích khiếu nại 17,38m² do bà Hà Thị B sử dụng (Phần diện tích này trước đây mẹ bà Đ3 cho phần diện tích nhà bếp 4m x 4,8m). Năm 1992, bà Đ3 và bà B sửa chữa nhà có mở rộng ra phía trước đường A diện tích khoảng 8m² (thuộc thửa đất số số 34, tờ Bản đồ số 7, diện tích khoảng 26,5m²). Khi Toà án nhân dân Quận 6 thụ lý và giải quyết tranh chấp “Đòi tài sản bị chiếm đoạt” giữa ông Bành Văn T5 với bà Bành Thị Đ3 và có đưa ông Lê Văn H vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Xét trong quá trình giải quyết vụ án Toà án nhân dân Quận 6 đã đưa ông Lê Văn H vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và trong quá trình giải quyết vụ án ngày 11/11/2004 ông H đã rút yêu cầu trong việc giải quyết tranh chấp đất. Ngày 28/6/2005, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự số 13496/2005/QĐĐC-PTDS đối với vụ án trên. Ngày 10/10/2007, ông Sy H4 và bà Tsần Mai Y mua căn nhà trên bằng hợp đồng mua bán tay, không qua công chứng chứng thực; Ngày 31/8/2017, Ủy ban nhân dân Phường A Quận F có Công văn số 591/UBND về giải quyết cấp giấy chứng nhận căn nhà trên ghi nhận: Phần diện tích đất không công nhận lối đi nằm hoàn toàn trong lộ giới đường A và phần đất này do Nhà nước trực tiếp quản lý (thuộc thửa đất số 35, tờ Bản đồ số 7). Các căn cứ nêu trên, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tại số nhà I A, Phường A, Quận F (thuộc thửa đất số 7, tờ bản đồ số 34 BĐĐC-2001 P13/Q6) mà Ủy ban nhân dân Quận F cấp giấy chứng nhận ngày 06/4/2013 là đúng quy định pháp luật theo Khoản 1 Điều 20, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai nên bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà T, bà Q, bà T1 đòi huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là phù hợp.

[5]. Như phân tích tại đoạn [3] và đoạn [4], thấy rằng bà Lê Thị T, bà Lê Thị Q và bà Lê Thị T1 kháng cáo nhưng không cung cấp căn cứ để làm thay đổi nội dung vụ án nên không được chấp nhận kháng cáo mà chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6]. Bà Lê Thị T, bà Lê Thị H1 và bà Lê Thị H9 kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng các bà T, bà Q, bà H9 là người cao tuổi, có yêu cầu được miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho những người kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận một phần kháng cáo của bà Lê Thị T, bà Lê Thị Q và bà Lê Thị H9. Giữ nguyên bản án số 2644/2023/DS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ Điều 34, Điều 37, Điều 147, Điều 155, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;

Căn cứ Luật đất đai năm 1987, năm 1993, năm 2003, năm 2013;

Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;

Căn cứ Điều 12, Điều 24, Điều 25, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án; Danh mục án phí lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016);

Căn cứ Luật người cao tuổi;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Lê Văn H gồm có bà Lê Thị T1, bà Lê Thị T, bà Lê Thị Q về việc:
  2. Buộc ông Sy H4 và bà Tsần Mai Y trả lại cho ông H, bà K toàn bộ phần đất đã chiếm diện tích 50.4m² (Theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H lập ngày 18/7/2023) thuộc Bằng khoán điền thổ số BK 179.

    Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất đối với phần đất tại số nhà I A, Phường A, Quận F (thuộc thửa đất số 7, tờ bản đồ số 34 BĐĐC-2001 P13/Q6) do Ủy ban nhân dân Quận F cấp ngày 06/4/2013 cho ông Sy H4 và bà Tsần Mai Y.

    Đình chỉ yêu cầu giải quyết tranh chấp của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn gồm có bà Lê Thị H1, ông Lê Văn C, bà Lê Thị H2 do bà H1, ông C, bà H2 đã rút yêu cầu.

  3. Về các chi phí tố tụng thẩm định, đo vẽ, định giá tài sản: Phía nguyên đơn phải chịu chi phí trên, phía nguyên đơn đã thực hiện xong.
  4. Về án phí: Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là bà Lê Thị T1, Lê Thị T, bà Lê Thị Q là người cao tuổi và yêu cầu xin miễn giảm án phí nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại Tp.HCM;
  • - TAND Tp.HCM;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - Cục THADS Tp.HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HS, VP, BA, BDQK23b.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Tám

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 831/2024/DS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận

  • Số bản án: 831/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger