Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN LẠC

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HS - ST

Ngày 29 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh M

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn K

Ông Hoàng Đức Kh

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hải Y - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Y1 - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2024/TLST - HS ngày 09 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Lăng Văn Q, sinh năm 2001 tại xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lăng Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Khổng Thị Nguyệt Á và chưa có con; Tiền án: 01. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/2022/HS-ST ngày 26/4/2022, Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Lăng Văn Q 9 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Ngày 15/9/2022, chấp hành xong hình phạt tù, ngày 26/7/2022 chấp hành xong án phí, Q chưa bồi thường thiệt hại số tiền 7.040.000 đồng, đến nay chưa được xoá án tích.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/4/2024 đến ngày 21/4/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y “có mặt”.

Người bào chữa cho bị cáo Lăng Văn Q: Ông Lê Văn D - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V “có mặt”.

Người làm chứng:

Anh Lê Quốc Đ, sinh năm 1976 “vắng mặt”;

Chị Khổng Thị Nguyệt Á, sinh năm 2004 “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 15/4/2024, khi Q đang ở nhà trọ tại huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc thì có nhu cầu sử dụng chất ma túy. Lúc này, Q gặp bạn nghiện là C, sinh năm 2002 ở tỉnh Sơn La nên Q hỏi C có biết ở đâu bán ma túy “đá” không thì C cho Quân số điện thoại 0328.223.xxx của một nam giới (không rõ lai lịch) để Q gọi hỏi mua ma túy. Sau đó, Q sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO có lắp sim số 0355524352 gọi điện cho nam giới trên để hỏi mua ma túy sử dụng. Qua điện thoại, Q hỏi mua của người này 600.000 đồng tiền ma túy “đá” và ma túy “ngựa” thì người này đồng ý và hẹn Q đến thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc để trao đổi mua bán ma túy thì Q đồng ý. Lúc này, Q rủ vợ là Khổng Thị Nguyệt Á, sinh năm 2004, trú tại thôn N, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc cùng đi có việc (không nói cụ thể việc gì) thì Á đồng ý. Sau đó, Q và Á bắt xe taxi do Lê Quốc Đ, sinh năm 1976, trú tại TDP N, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc điều khiển đi đến thị trấn T, huyện Y. Khi đi đến đoạn đường liên thôn T, thị trấn T, huyện Y thì Q một mình xuống xe taxi gặp và đưa cho người này số tiền 600.000 đồng. Nam giới trên nhận tiền rồi đưa cho Q 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa ma túy đá và ma túy “ngựa”, sau đó bỏ đi. Q cầm túi ma túy đá và ma túy “ngựa” vừa mua được trên tay phải đi lên xe taxi để tìm nơi sử dụng ma túy thì đúng lúc này có tổ công tác Công an huyện Y đến kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại lòng bàn tay phải của Q 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong đựng tinh thể dạng đá màu trắng và 02 (hai) viên nén màu hồng là ma túy “đá” và ma túy “ngựa” của Q tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân; thu giữ của Q 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu tím, bị vỡ màn hình, đã cũ đã qua sử dụng. Cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Q về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, niêm phong tang vật có liên quan theo quy định pháp luật.

Ngày 16/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 493 giám định mẫu vật được niêm phong ký hiệu A1 gửi đến Phòng K - Công an tỉnh V để giám định xác định mẫu vật gửi giám định có phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép ma túy không, loại ma túy, tiền chất gì? Trọng lượng (khối lượng) của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?

Ngày 19/4/2024, Phòng K - Công an tỉnh V có Bản kết luận giám định số 1071/KL - KTHS, kết luận:

“- Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng: 0,2014g (Không phảy hai không một bốn gam, không kể bao bì).

- Hai viên nén màu hồng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có tổng khối lượng: 0,1931g (Không phảy một chín ba một gam, không kể bao bì).

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”

Phòng K - Công an tỉnh V đã hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu, gồm: A1 (TT) = 0,1678 gam, A1 (viên nén hồng) = 0,1518 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ vụ 975/2024”, trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói niêm phong và hình dấu tròn đỏ của phòng K - Công an tỉnh V.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ được, Q khai nhận mua của một nam giới lạ mặt ở thị trấn T, huyện Y có sử dụng số điện thoại 0328.223.xxx. Cơ quan điều tra đã xác minh nguồn gốc số điện thoại trên xác định số điện thoại đăng ký tên chủ sử dụng là chị Lê Nguyễn Quỳnh A, sinh năm 2007 có hộ khẩu thường trú tại số G H, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Chị Quỳnh A khai nhận không đăng ký, không sử dụng số thuê bao 0328223195, chị cũng không quen biết với Lăng Văn Q. Q cũng không nhớ đặc điểm của người nam giới này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có cơ sở để điều tra xác minh.

Đối với nam thanh niên tên là C, sinh năm 2002 ở tỉnh Sơn La do Q không biết rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xác minh.

Đối với Khổng Thị Nguyệt Á, quá trình điều tra làm rõ Á chỉ biết Q rủ đi chơi cùng, không biết việc Q đi mua ma tuý, Á không góp tiền và không được hưởng lợi gì từ việc Q mua ma tuý. Số tiền mua ma túy là tiền riêng cá nhân của Q, không phải là tiền tiêu dùng chung của vợ chồng nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Á.

Đối với anh Lê Quốc Đ, sinh năm 1976, trú tại TDP N, thị trấn H, huyện B là lái xe taxi nhưng anh Đ không biết việc Q thuê lái xe để đi mua ma tuý. Quá trình di chuyển trên đường anh Đ không thấy Q và Á trao đổi nội dung gì liên quan đến việc Q đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.

* Về vật chứng của vụ án:

Đối với mẫu vật Phòng K - Công an tỉnh V đã hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định, gồm: A1 (TT) = 0,1678 gam, A1 (viên nén hồng) = 0,1518 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 975/2024” trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói niêm phong và hình dấu tròn đỏ của phòng K - Công an tỉnh V là vật Nhà nước cấm lưu hành và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím đã cũ bị vỡ màn hình, Q sử dụng mục đích để liên lạc mua ma tuý.

Quá trình điều tra Lăng Văn Q đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Tại Cáo trạng số 78/CT - VKSYL ngày 07 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố bị cáo Lăng Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Lăng Văn Q từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 16/4/2024; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng và miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Bị cáo Q không có ý kiến bổ sung gì khác và cũng không có ý kiến tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo Lăng Văn Q đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lăng Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo là người nghiện ma túy nên mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bố bị cáo đã mất, mẹ bị cáo kết hôn với người khác; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đồng thời đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.

Người làm chứng anh Lê Quốc Đ và chị Khổng Thị Nguyệt Á trình bày các nội dung phù hợp với lời khai của bị cáo Q cùng các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lăng Văn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc. Bị cáo khai nhận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/4/2024, tại đoạn đường liên thôn T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Lăng Văn Q đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,3945g chất ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

[3] Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh V và vật chứng vụ án thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi cất giấu ma túy của bị cáo Lăng Văn Q đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội danh được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) ...Methamphetamine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;...

[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến tính chất độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, hơn nữa trong giai đoạn hiện nay tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng nên cần xử phạt nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục và phòng chống tội phạm.

[5] Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Trước khi phạm tội bị cáo Lăng Văn Q có tiền án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Năm 2022, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 9 tháng tù giam. Ngày 15/9/2022, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và ngày 26/7/2022 chấp hành xong án phí nhưng Q chưa bồi thường thiệt hại số tiền 7.040.000 đồng, đến nay chưa được xoá án tích. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhận thức bình thường, có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng bản thân, bất chấp quy định của pháp luật xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ về hành vi bị cáo đã thực hiện như mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, bị cáo thuộc hộ nghèo nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Xử lý vật chứng và các vấn đề liên quan trong vụ án:

Tịch thu tiêu hủy mẫu A1 (TT) = 0,1678 gam, A1 (viên nén hồng) = 0,1518 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành.

Tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, bị vỡ màn hình, đã cũ, Q sử dụng để liên lạc mua ma tuý.

Đối với nam giới lạ mặt ở thị trấn T, huyện Y là người bán ma túy cho Q. Q không nhớ đặc điểm của người nam giới này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có cơ sở để điều tra xác minh.

Đối với nam thanh niên tên là C, sinh năm 2002 ở tỉnh Sơn La do Q không biết rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xác minh.

Đối với Khổng Thị Nguyệt Á, quá trình điều tra làm rõ Á chỉ biết Q rủ đi chơi cùng, không biết việc Q đi mua ma tuý, Á không góp tiền và không được hưởng lợi gì từ việc Q mua ma tuý. Số tiền mua ma túy là tiền riêng cá nhân của Q, không phải là tiền tiêu dùng chung của vợ chồng nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Á.

Đối với anh Lê Quốc Đ, sinh năm 1976, trú tại TDP N, thị trấn H, huyện B là lái xe taxi nhưng anh Đ không biết việc Q thuê lái xe để đi mua ma tuý. Quá trình di chuyển trên đường anh Đ không thấy Q và Á trao đổi nội dung gì liên quan đến việc Q đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo Q thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, do vậy, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Q.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lăng Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lăng Văn Q 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 16/4/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu A1 (TT) = 0,1678 gam, A1 (viên nén) = 0,1518 gam cùng toàn bộ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành.

Tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, bị vỡ màn hình.

(Vật chứng của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc lập ngày 28/10/2024).

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lăng Văn Q.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Yên Lạc;
  • - Cơ quan CSĐT - CA huyện Yên Lạc;
  • - Cơ quan THAHS - CA huyện Yên Lạc;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Lạc;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Yên Lạc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Thanh M

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS - ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 83/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lăng Văn Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger