Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN BIÊN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2023/HS-ST

Ngày 28-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kim Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Văn Thà;
  2. Bà Nguyễn Hồng Trang.

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trung Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Lâm Hà Thuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị L; bị cáo có vợ là Nguyễn Bách L1 và 02 người con; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/7/2023 đến ngày 17/7/2023 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.

- Bị hại:

  1. Ông Võ Tấn V, sinh năm 1987; cư trú tại: ấp G, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt;
  2. Bà Võ Thị Tuyết M, sinh năm 1975; cư trú tại: ấp G, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt;
  3. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1971; cư trú tại: ấp G, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt;
  4. Ông Bùi Thanh Q, sinh năm 1992; cư trú tại: ấp G, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt;
  5. Ông Võ Thanh S, sinh năm 1953; cư trú tại: ấp G, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh, (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của ông Võ Thanh S: bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1958; cư trú tại: ấp G, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh (là vợ ông S), vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 07/7/2023, Nguyễn Văn T cùng Phạm Hoàng L2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 70G1-217.20, mang theo bộ dụng cụ bắt chó đi đến các huyện T, T tìm chó của người dân thả rong ngoài đường để bắt trộm. Khi phát hiện có chó, TL2 sẽ dùng súng bắn điện để bắn, rồi nhanh chóng ôm chó lên xe chạy thoát. Khi đi đến đoạn đường thuộc ấp G, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh, TL2 đã Dùng súng bắn điện bắn tổng cộng được 07 con chó. Trong đó, bắt được 05 con (đã chết) bỏ vào bọc ni long màu đen gồm:

  • - 01 con chó cái, màu vàng, trọng lượng 18 kg; 01 con chó cái, màu đen trọng lượng 12 kg; 01 con chó cái, màu vàng, trọng lượng 16 kg của ông Nguyễn Văn N.
  • - 01 con chó đực, màu vàng, trọng lượng 14 kg của bà Võ Thị Tuyết M.
  • - 01 con chó cái, màu vàng, trọng lượng 14 kg của ông Võ Tấn V.
  • - 01 con chó đực, loại chó đốm màu trắng đen, trọng lượng 12 kg của ông Võ Văn S1.

Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi TL2 đang sử dụng súng bắn con chó đực màu dện, trọng lượng 15,1 kg của ông Bùi Thanh Q thì bị Công an xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh phát hiện bắt quả tang, riêng Phạm Hoàng L2 chạy thoát.

Ngoài ra, vào lúc 22 giờ 00 phút ngày 05/7/2023, T sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển kiểm soát 70G1-217.20 chở Phạm Hoàng L2 đi trộm chó tại khu vực Thành Phố T được 03 con chó, tuy nhiên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thụ lý tuy nhiên không xác định được bị hại nên không truy cứu trách nhiệm hình sự những lần này.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 11/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:

  • + 01 con chó đực, màu dện có trọng lượng 15,1 kg giá 906.000 đồng.
  • + 03 con chó gồm: 01 con chó cái màu vàng trắng, có trọng lượng 16 kg; 01 con chó cái, màu vàng, có trọng lượng 18 kg; 01 con chó cái, màu đen có trọng lượng 12 kg giá 2.760.000 đồng.
  • + 01 con chó đực, màu vàng, có trọng lượng 14 kg giá 840.000 đồng.
  • + 01 con chó cái, màu vàng, có trọng lượng 14 kg giá 840.000 đồng.
  • + 01 con chó đực, loại chó đốm màu trắng đen, có trọng lượng 12 kg giá 720.000 đồng.

Tổng cộng 07 con chó có trọng lượng 101,1 kg, tại thời điểm định giá vào ngày 07/7/2023 có giá trị 6.066.000 đồng.

* Trách nhiệm dân sự: các bị hại gồm Võ Thị Tuyết M, Võ Tấn V, Võ Văn S1, Bùi Thanh Q đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường. Bị hại Nguyễn Văn N đã nhận lại 03 con chó bị mất trộm và yêu cầu Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 2.760.000 đồng, bị cáo T đã tác động gia đình bồi thường xong.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 bộ dụng cụ bắn điện gồm: cán súng, mũi súng, bình ắc quy loại 12v-4AW, cục M1, dây điện; 01 mũi súng và dây điện dự phòng; 01 bình xịt hơi cay hiệu TAKFDOWN; 01 ná thun, 19 viên đá, 01 cuộn băng keo màu đen, 01 kiềm sắt, 01 tua vít, 11 bọc ni long màu đen, 01 cặp da màu đen, 01 đôi dép nhựa màu đen hiệu DVWA; 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số: 70G1-217.20, số máy 55P1222095, số khung: RLCE55P10DY222065; 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, số imel: 354493099125618; 01 đôi dép nhựa màu đen, có hình chữ C màu trắng.

Kết luận giám định số: 1880/KL-KTHS ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận xe mô tô nhãn hiệu exciter, màu sơn xanh, số máy 55P1222095, số khung: RLCE55P10DY222065 (được ký hiệu số 1156) số khung và số máy không bị đục sửa.

Kết quả tra cứu xe máy vật chứng thể hiện xe máy biển kiểm soát 70G1-217.20, số máy 55P1222095, số khung: RLCE55P10DY222065 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

Bản cáo trạng số 75/CT-VKSTB, ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

Về bồi thường thiệt hại: bị cáo Nguyễn Văn T đã tác động gia đình bồi thường xong cho bị hại Nguyễn Văn N số tiền 2.760.000 đồng, các bị hại khác không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi và quyết định tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi của bị cáo thể hiện: vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 07/7/2023, bị cáo Nguyễn Văn T cùng Phạm Hoàng L2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu exciter, biển kiểm soát 70G1-217.20, mang theo bộ dụng cụ bắt chó đi đến khu vực ấp G, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh để bắt trộm chó. Tại đây, TL2 đã bắt trộm 07 con chó, tổng trọng lượng 101,1 kg của các bị hại Võ Thị Tuyết M, Võ Tấn V, Võ Văn S1, Bùi Thanh Q, Nguyễn Văn N. Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự xác định giá trị của 07 con chó nêu trên là 6.066.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bản Cáo trạng số 75/CT-VKSTB ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

[3] Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, đã lén lút thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản đem bán lấy tiền để sử dụng cho bản thân.

[4] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong cho bị hại Nguyễn Văn N và bị hại N có đơn xin bãi nại cho bị cáo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần mức án khi quyết định hình phạt.

[5] Hình phạt áp dụng: căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo T, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội.

[6] Về bồi thường thiệt hại: các bị hại Võ Thị Tuyết M, Võ Tấn V, Võ Văn S1, Bùi Thanh Q không yêu cầu bồi thường, bị hại Nguyễn Văn N yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.760.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7] Về xử lý vật chứng: 01 bộ dụng cụ bắn điện gồm: cán súng, mũi súng, bình ắc quy loại 12v-4AW, cục M1, dây điện; 01 mũi súng và dây điện dự phòng; 01 bình xịt hơi cay hiệu TAKFDOWN; 01 ná thun, 19 viên đá, 01 cuộn băng keo màu đen, 01 kiềm sắt, 01 tua vít, 11 bọc ni long màu đen, 01 cặp da màu đen; là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng và 01 đôi dép nhựa màu đen, có hình chữ C màu trắng, 01 đôi dép nhựa màu đen hiệu DVWA bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số: 70G1-217.20, số máy 55P1222095, số khung: RLCE55P10DY222065 và 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, số imel: 354493099125618, bị cáo dùng làm phương tiện đi lại và liên lạc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;

[8] Đối với hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 05/7/2023 của Nguyễn Văn T xảy ra trên địa bàn thành phố T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chuyển tin báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý theo thẩm quyền. Qua xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không tìm được người bị hại nên không thụ lý đối với tin báo trên.

[9] Đối với Phạm Hoàng L2: quá trình điều tra, T khai L2 có tham gia trộm chó cùng T. Xét thấy, chỉ có lời khai của T, ngoài ra không thu được chứng cứ gì khác. Hiện L2 đã bỏ trốn, chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ban hành Quyết định truy tìm đối với Phạm Hoàng L2, khi tìm được sẽ xử lý sau.

[10] Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”:

    Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 08/07/2023.

  2. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ dụng cụ bắn điện gồm: cán súng, mũi súng, bình ắc quy loại 12v-4AW, cục M1, dây điện; 01 (một) mũi súng và dây điện dự phòng; 01 (một) bình xịt hơi cay hiệu TAKFDOWN; 01 (một) ná thun, 19 viên đá, 01 cuộn băng keo màu đen, 01 kiềm sắt, 01 tua vít, 11 bọc ni long màu đen, 01 cặp da màu đen, 01 đôi dép nhựa màu đen hiệu DVWA, 01 đôi dép nhựa màu đen có hình chử C màu trắng.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số: 70G1-217.20, số máy 55P1222095, số khung: RLCE55P10DY222065; 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu đen, số imel: 354493099125618.

    (Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2023).

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1);
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKDND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - Phòng KTNV và THA -TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Biên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Biên;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Phòng PV06-Công an Tây Ninh;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Tân Biên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 83/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T bị truy tố xét xử về tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger