Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày 27-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa

Ông Nguyễn Văn Cho

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Yến T, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1987 tại T, An Giang;

CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nữ; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: thiên chúa giáo; con ông Nguyễn Ngọc A và bà Nguyễn Thị Thu H; chồng Trần Văn T1; con có 04 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Trần Thị Cẩm H1, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
  • + Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Nơi ở hiện nay: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
  • + Lê Thị Kim C, sinh năm 1976. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
  • + Nguyễn Thị C1, sinh năm 1956. ấp Xẻo Nhàu B, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/01/2024, lực lượng Công an xã T, huyện A bắt quả tang bị can Nguyễn Thị Yến T, sinh 28/10/1987, thường trú tại ấp X, xã T, huyện A, Kiên Giang bằng hình thức bán số đề trái phép. Các tang vật thu được gồm: 01 phơi đề ghi các con số tự nhiên trên tờ giấy lịch; 01 cây viết màu xanh trắng đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, hiệu Oppo A55, màu xanh đã qua sử dụng và tiền mặt 299.000 đồng. Qua kiểm tra phơi đề ghi ngày 24/01/2024 bị can Nguyễn Thị Yến T thừa nhận bán số đề cho bà Lê Thị Kim C, bà E (chưa xác định, nhân thân, địa chỉ) được tổng số tiền 195.000 đồng.

Qua kiểm tra điện thoại còn lưu lại ngày 23/01/2024 Nguyễn Thị Yến T thừa nhận bán các đài xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Nam như: Bạc Liêu; Bến Tre; Vũng Tàu được tổng số tiền 2.512.000 đồng. Trong đó, đài Bạc L bán được tổng số tiền là 1.528.000 đồng. Đài B bán được tổng số tiền là 500.000 đồng. Đ bán được tổng số tiền 484.000 đồng. Trong ngày 23/01/2024, đài Bạc Liêu trúng con số đầu 52 x 25.000 đồng x 80 lần = 2.000.000 đồng: Đài B trúng con số đầu 44 x 10.000 đồng x 80 lần = 800.000 đồng. Tổng số tiền trúng thưởng là 2.800.000 đồng. Vậy tổng số tiền bị can Nguyễn Thị Yến T đánh bạc bằng hình thức ghi phơi để cho các con bạc Trần Thị Cẩm H1: Trần Thị Tuyết N; Lê Thị Kim C, Nguyễn Thị C1 trong ngày 23/01/2024 là 5.312.000 đồng.

Bị can Nguyễn Thị Yến T thừa nhận đã tham gia bán số đề được 07 ngày tính đến ngày bị bắt 24/01/2024. Bị can Nguyễn Thị Yến T tự bán, tự chung tiền không có giao phơi cho ai, bán được ít nhất là khoảng 200.000 đồng và nhiều nhất là ngày 23/01/2024 là 2.512.000 đồng và không có thu lợi bất chính do bị can lỗ trong khoảng thời gian qua.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A trích xuất dữ liệu điện thoại di động của bị can Nguyễn Thị Yến T, 01 phơi để bán ngày 24/01/2024 và 02 phơi đề bán ngày 23/01/2024 kèm theo hồ sơ vụ án. Tạm giữ 01 điện thoại Oppo A55 màu xanh đã qua sử dụng và 01 cây viết màu xanh trắng đã qua sử dụng.

Tại Cáo trạng số 66/CT-VKS-AM ngày 08-7-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Thị Yến Trinh về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Thị Yến T phạm tội đánh bạc và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật

3

Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Yến T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung từ 10 đến 20 triệu đồng; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Oppo A55 màu xanh đã qua sử dụng và số tiền đánh bạc bị thu giữ ngày 24/01/2024 là 299.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 cây viết màu xanh trắng đã qua sử dụng.

- Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 24/01/2024 tại ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Nguyễn Thị Yến T đang thực hiện hành vi đánh bạc thì bị bắt quả tang. Qua khai thác xác định vào ngày 23/01/2024, Nguyễn Thị Yến T có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề các đài M (Bạc Liêu, Bến Tre, Vũng Tàu) được số tiền 2.512.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng là 2.800.000 đồng, tổng cộng 5.312.000 đồng. Bị cáo tự bán, tự trả thưởng, không nộp phơi cho ai, quá trình bán số đề không thu lợi được khoản tiền nào.

[3] Về tội danh: Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được việc bán số đề được thua bằng tiền cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện; bị cáo đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề được thua bằng tiền với số tiền đánh bạc vào ngày 23/01/2024 trên 5.000.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy

4

tố và kết luận bị cáo phạm tội đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và sự bất bình trong nhân dân. Bị cáo liên tục thực hiện hành vi bán số đề trong nhiều ngày cho thấy chưa chấp hành tốt pháp luật nên cần có hình thức xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhưng chưa chấp hành tốt pháp luật, liên tiếp thực hiện hành vi đánh bạc trong nhiều ngày, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, nên cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt bằng hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét thấy bị cáo có nghề nghiệp với thu nhập không ổn định, khó đảm bảo việc thi hành án nên miễn khấu trừ thu nhập.

[4.4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX nhận thấy lẽ ra áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe. Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định phải nuôi 04 đứa con còn nhỏ, khó đảm bảo khả năng thi hành án nên không áp dụng.

[5] Về vật chứng, công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội là 01 (Một) điện thoại Oppo A55 màu xanh đã qua sử dụng, số tiền đánh bạc bị thu giữ ngày 24/01/2024 là 299.000 đồng cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; đối với 01 cây viết màu xanh trắng đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy

5

theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Về án phí, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Đối với Trần Thị Cẩm H1, Trần Thị Tuyết N, Lê Thị Kim CNguyễn Thị C1 có hành vi đánh bạc trái phép nhưng chưa đủ định lượng để xử lý hình sự, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Yến T phạm tội Đánh bạc.
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Yến T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
    2. Giao bị cáo Nguyễn Thị Yến T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.

      Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong giai đoạn thi hành án.

    3. Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng.
  2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
    • 01 (Một) điện thoại Oppo A55 màu xanh đã qua sử dụng (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 33/QĐ-VKS-AM ngày 08-7-2024 của VKSND huyện An Minh);
    • Số tiền đánh bạc của bị cáo Nguyễn Thị Yến T là 299.000 đồng (cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã nộp 299.000 đồng vào tài khoản số 7710203000019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh tại Kho bạc Nhà nước huyện A vào ngày 29/5/2024).
  3. Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Thị Yến T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo, người liên quan (H1, N) có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 27-8-2024). Người

6

liên quan (C, C1) vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo; người liên quan;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND X. Tân Thạnh, AM, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về đánh bạc

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Yến Tr phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger