|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27/5/2024
(V/v: Tranh chấp yêu cầu xin
ly hôn và nuôi con chung)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Văn An
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Phước
- Ông Đinh Công Luận
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bé – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 84/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 160/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- · Nguyên đơn: Anh Thái Quốc K, sinh ngày 01/01/1992.
- Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
- · Bị đơn: Chị Lâm Thị N, sinh ngày 08/02/1994.
- Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
- (Anh K có đơn xin vắng mặt, chị N vắng mặt lần 2 không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/02/2024, bản tự khai và các biên bản lấy lời khai trong quá trình tố tụng, cũng như lời trình bày tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn anh Thái Quốc K trình bày: Vào năm 2011, được sự đồng ý của hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán ở địa phương cho anh và chị N nên vợ thành chồng, hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, sau đó anh và chị N có đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện P cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật.
Nguyên nhân mâu thuẫn để anh yêu cầu xin ly hôn với chị N là do tính tình giữa hai người không hòa hợp, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng và không còn hạnh phúc. Hiện tại chị N đã bỏ anh ra đi hơn 01 năm nay nên từ đó cuộc sống vợ chồng anh không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn được với nhau, hiện tại anh không còn tình cảm gì với chị N nữa nên nay anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lâm Thị N.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng anh và chị N có 03 người con chung tên Thái Lâm Tiểu V, sinh ngày 25/7/2012, Thái Lâm Nhật V1, sinh ngày 03/01/2014 và Thái Lâm Khả V2, sinh ngày 28/8/2018. Hiện nay cả 03 cháu Tiểu V, N và Khả V2 đang sống cùng với anh K nên nay ly hôn anh K yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Thái Quốc K xác định vợ chồng chung sống với nhau không có tài sản chung và nợ chung nên khi ly hôn anh không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với bị đơn chị Lâm Thị N: Mặc dù chị N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng chị N vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với chị N theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm như sau:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn anh Thái Quốc K là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn chị Lâm Thị N chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Anh K và chị N kết hôn với nhau vào năm 2011, hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, hiện tại anh chị mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Xét thấy hôn nhân giữa anh K và chị N nếu tiếp tục kéo dài thì cũng không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh K được ly hôn với chị N là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Từ khi anh K và chị N sống ly thân cho đến nay thì anh K là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 03 người con tên Thái Lâm Tiểu V, sinh ngày 25/7/2012, Thái Lâm Nhật V1, sinh ngày 03/01/2014 và Thái Lâm Khả V2, sinh ngày 28/8/2018. Chị N không tranh chấp quyền nuôi con với anh K nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cả 03 người con tên Thái Lâm Tiểu V, sinh ngày 25/7/2012, Thái Lâm Nhật V1, sinh ngày 03/01/2014 và Thái Lâm Khả V2, sinh ngày 28/8/2018 cho anh K được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn anh K và chị N không đặt ra yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình anh K phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Thái Quốc K có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với chị Lâm Thị N, chị N có địa chỉ cư trú tại huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Anh Thái Quốc K có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Thái Quốc K.
Chị Lâm Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng chị N vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Lâm Thị N.
[2] Về nội dung vụ án: Anh K và chị N kết hôn với nhau vào năm 2011, hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, sau đó anh chị có đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện P cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh K đối với chị N thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng anh K và chị N lại không làm được, mà còn phát sinh nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn lại được. Hiện tại anh chị cũng đã sống ly thân với nhau khoảng hơn 01 năm nay. Trong thời gian qua cả hai anh chị đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện ý chí anh chị mong muốn hàn gắn lại với nhau, anh chị không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Như vậy, chứng tỏ cuộc sống vợ chồng của anh K và chị N là không thể hàn gắn lại được, cuộc sống chung đã không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh K đối với chị N là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng anh K và chị N chung sống với nhau có 03 người con chung tên Thái Lâm Tiểu V, sinh ngày 25/7/2012, Thái Lâm Nhật V1, sinh ngày 03/01/2014 và Thái Lâm Khả V2, sinh ngày 28/8/2018. Hiện tại cả 03 cháu Tiểu V, Nhật V1 và Khả V2 đang sống cùng với anh K, nay ly hôn anh K yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu chị N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng, từ khi anh K và chị N sống ly thân cho đến nay thì anh K là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả 03 cháu Tiểu V, Nhật V1 và Khả V2. Hiện tại anh K vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của các con. Mặt khác, qua tiếp xúc với 02 cháu Tiểu V và Nhật V1 đều có nguyện vọng mong muốn được sống cùng với anh K khi anh K và chị N ly hôn với nhau. Do đó, để đảm bảo cho các cháu phát triển ổn định, tránh làm ảnh hưởng đến tâm lý của con nhỏ. Trên cơ sở cân nhắc các quyền lợi phát triển tốt nhất của con chưa thành niên nên căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải giao người con chung tên Thái Lâm Tiểu V, sinh ngày 25/7/2012, Thái Lâm Nhật V1, sinh ngày 03/01/2014 và Thái Lâm Khả V2, sinh ngày 28/8/2018 cho anh K được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp.
Anh Thái Quốc K không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị Lâm Thị N.
Chị Lâm Thị N có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Thái Quốc K và chị Lâm Thị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;HJohH
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Thái Quốc K đối với chị Lâm Thị N. Cho anh Thái Quốc K được ly hôn với chị Lâm Thị N.
- Về con chung: Giao cả 03 người con tên Thái Lâm Tiểu V, sinh ngày 25/7/2012, Thái Lâm Nhật V1, sinh ngày 03/01/2014 và Thái Lâm Khả V2, sinh ngày 28/8/2018 cho anh Thái Quốc K được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện tại cả 03 cháu Tiểu V, Nhật V1 và cháu Khả V2 đang sống cùng với anh K nên được giữ nguyên.
Anh Thái Quốc K không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị Lâm Thị N.
Chị Lâm Thị N có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình: Anh Thái Quốc K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006692 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6, quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a, 7b, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Danh Văn An |
Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
