|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI Bản án số: 83/2024/HS-ST Ngày 26- 7- 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc ———————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Hiền
Ông Bùi Xuân Hưởng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 với các bị cáo:
NGUYỄN THỊ N; Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 14/01/1986 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai
Nơi đăng ký thường trú: Tổ D, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nơi ở hiện nay: Số nhà I, đường Đ, tổ B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công T và bà Nguyễn Thị L. Bị cáo có chồng là Trần Đức L1, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại số nhà I, đường Đ, tổ B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt
MỘC ĐỨC M; Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 22/9/1985 tại huyện V, tỉnh Lào Cai
Đăng ký thường trú: Tổ G, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nơi ở hiện nay: Số nhà A, đường T, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mộc Đức M và bà Nguyễn Thị M1. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị N (Đã ly hôn năm 2024), bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo là Đảng viên Đ; Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại số nhà A, đường T, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phan Văn T1 – Sinh năm 1982
Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Anh Phạm Văn B – Sinh năm 1976
Địa chỉ: Tổ B, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Anh Phan Anh T2 – Sinh năm 1964
Địa chỉ: Tổ A, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 15 phút ngày 19/01/2024, Phòng C Công an tỉnh L tiến hành kiểm tra hành chính và khám xét chỗ ở đối với Nguyễn Thị N1 thì phát hiện Nguyễn Thị N1 đang thực hiện hành vi bán các số lô, số đề trái phép được chuyển đến qua tin nhắn điện thoại di động và tin nhắn trong ứng dụng mạng xã hội Zalo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Thị N1 khai nhận, bị cáo ký hợp đồng đại lý bán vé xổ số cho Công ty TNHH MTV X. Sau đó, bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức nhận, chuyển số lô, số đề cho khách tại khu vực đường L, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai, mục đích để hưởng lợi phần trăm hoa hồng. Khoảng tháng 2/2022, Nguyễn Thị N1 sử dụng điện thoại di động có lắp sim “0987.906.200”, đăng ký sử dụng tài khoản zalo có tên “Hoa Rừng” và tài khoản T3 có tên “hoa rung” để nhận tin nhắn mua số lô, số đề của khách và sử dụng các cáp đề được cắt từ giấy A4, để bán số lô, số đề cho khách qua đường. Nguyễn Thị N1 thoả thuận với khách mua số đề dưới 10.000.000 đồng là 80% (nghĩa là khách mua 100.000 đồng tiền số đề thì khách chỉ phải trả số tiền 80.000 đồng); còn mua số đề trên 10.000.000 đồng là 75% (nghĩa là khách mua 100.000 đồng số tiền đề thì khách chỉ phải trả số tiền 75.000 đồng); đối với số lô khách mua từ 100 điểm trở lên giá là 22.500 đồng/điểm, mua số lô dưới 100 điểm giá là 23.000 đồng/điểm, còn mua trên 1000 điểm giá là 22.000 đồng/điểm. Sau khi bán số lô, số đề cho khách, Nguyễn Thị N1 sẽ chuyển số lô, số đề khách đã mua cho một người tên “Hoài” qua ứng dụng telegram có tên “A L2” và ứng dụng zalo có tên “ngộ không” với thỏa thuận chuyển cho H số đề giá 72%, đối với số lô giá là 21.800 đồng/điểm. Nguyễn Thị N1 thỏa thuận người chơi nhận tin nhắn ghi số lô trước 18 giờ 05 phút, số đề trước 18 giờ 15 phút hàng ngày, đối với người tên H thời gian gửi tin nhắn số lô chậm nhất là 18 giờ 10 phút, tin nhắn số đề chậm nhất 18 giờ 20 phút hàng ngày. Căn cứ vào kết quả mở thưởng trong ngày của xổ số kiến thiết miền B. Đối với số đề trùng với hai số cuối của giải đặc biệt là trúng đề thì Nguyễn Thị N1 sẽ phải trả cho người trúng số tiền gấp 70 lần số tiền đánh cược. Đối với số lô thường sẽ so với hai số cuối của tất cả các giải thưởng, nếu trùng nghĩa là trúng lô thì sẽ phải trả số tiền 80.000 đồng/1điểm, tối đa là ba lần. Đối với khách qua đường, N1 thanh toán bằng hình thức trả tiền mặt hoặc thanh toán chuyển tiền qua tài khoản, qua số tài khoản “3750175520” mang tên “NGUYEN THI NGA” tại ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1, chi nhánh L3 (B1).
Ngày 19/01/2024 trong dữ liệu điện thoại di động của Nguyễn Thị N1 có tổng số 07 tin nhắn số lô, số đề của khách chơi gửi đến với tổng số tiền là 60.034.000 đồng (Sáu mươi triệu không trăm ba mươi bốn nghìn đồng), gồm: 1.610 điểm lô tương đương số tiền 35.545.000 đồng và 24.489.000 đồng tiền số đề.
Trong đó, tin nhắn của Mộc Đức M2 gửi đến với tổng số tiền 49.800.000 đồng (Bốn mươi chín triệu tám trăm nghìn đồng), gồm tiền đề 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng), 1400 điểm lô tương đương số tiền 30.800.000 đồng. Tin nhắn của Phan Văn T1 sử dụng số điện thoại 0977.065.xxx gửi qua tin nhắn SMS với tổng số tiền 1.610.000 đồng tiền đề. Tin nhắn của Phạm Văn B sử dụng số điện thoại 0984.618.xxx gửi qua tin nhắn SMS với tổng số tiền 230.000 đồng (Hai trăm ba mươi nghìn đồng) tương đương với 10 điểm lô. Tin nhắn của Phan Anh T2 sử dụng số điện thoại 0973.919.xxx đăng ký mạng xã hội Zalo tên “a cong nhan” rồi nhắn tin cho Nguyễn Thị N1 qua tài khoản zalo tên “Hoa Rừng” 10 điểm lô tương đương 230.000 đồng. Tài khoản Zalo tên “Mai Linh N2” (không xác định được số điện thoại đăng ký) nhắn tin qua tài khoản Zalo tổng số 4.625.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng), gồm 170 điểm lô tương đương số tiền 3.825.000 đồng. Tài khoản zalo tên “Hình” nhắn tin qua tài khoản Zalo tổng số 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền đề. Tài khoản zalo tên “Khánh Bi” nhắn tin qua tài khoản tổng số 20 điểm lô tương đương với số tiền 460.000 đồng. Tài khoản zalo có tên “Trung Nghĩa” nhắn tin qua tài khoản Zalo tổng số 200.000 đồng tiền đề.
Ngoài ra, Nguyễn Thị N1 còn mua bán số lô, số đề trực tiếp với khách trong ngày 19/01/2024 với tổng số tiền là 5.334.000 đồng (Năm triệu ba trăm ba mươi bốn nghìn đồng), gồm: 140 điểm lô tương đương với số tiền là 3.170.000 đồng; số tiền đề là 2.164.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Thị N1 thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề trong ngày 19/01/2024 là 65.368.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng) gồm 1750 điểm lô tương đương số tiền 38.715.000 đồng, số đề là 26.653.000 đồng. Xác định số tiền khách phải trả cho Nguyễn Thị N1 ngày 19/01/2024 là 58.914.000 đồng, trong đó, số tiền lô là 38.715.000 đồng; số tiền đề là 20.199.000 đồng. Số tiền khách đã chuyển khoản là 4.610.000 đồng; khách đã thanh toán tiền mặt là 2.164.000 đồng, số tiền chưa thanh toán là 52.140.000 đồng.
Sau khi bán các số lô, số đề cho người chơi, Nguyễn Thị N1 sử dụng tài khoản Zalo có tên “Hoa Rừng” gửi 03 tin nhắn các số lô, số đề cho đối tượng tên “H” qua tài khoản Zalo có tên “ngộ không”. Sử dụng tài khoản Telegram có tên “hoa rung” gửi 03 tin nhắn các số lô, số đề cho đối tượng tên “H” qua tài khoản Telegram có tên “A L2” với tổng số tiền tương ứng đã chuyển cho H là 57.272.000 đồng (Năm mươi bẩy triệu hai trăm bẩy mươi hai nghìn đồng), gồm: 1750 điểm điểm lô tương đương số tiền 38.150.000 đồng, tiền đề là: 19.122.000 đồng. Trong đó: chuyển qua Zalo là 47.906.000 đồng (gồm: 1570 điểm lô tương đương số tiền 34.226.000 đồng; tiền số đề là 13.680.000 đồng), chuyển qua T3 là 9.366.000 đồng, (gồm: 180 điểm lô tương đương với số tiền 3.924.000 đồng; tiền số đề là 5.442.000 đồng).
Tổng số tiền bị cáo được hưởng lợi do mua bán số lô, số đề trong ngày 19/01/2024 là 1.566.000 đồng (Một triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Số tiền này Nguyễn Thị N1 và người tên H chưa thanh toán với nhau nên cơ quan điều tra không thu hồi được.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Mộc Đức M2 khai nhận: Khoảng đầu tháng 01/2022, Mộc Đức M2 nảy sinh ý định đánh bạc bằng hình thức mua số lô, đề, mục đích kiếm tiền để chi tiêu cá nhân. Mộc Đức M2 tự giới thiệu với Nguyễn Thị N1 tên là T4 và thoả thuận với nhau mua số đề dưới 10.000.000 đồng là 80% (nghĩa là mua 100.000 đồng tiền số đề thì chỉ phải trả số tiền 80.000 đồng); còn mua số đề trên 10.000.000 đồng là 75% (nghĩa là mua 100.000 đồng số tiền đề thì chỉ phải trả số tiền 75.000 đồng); đối với số lô mua từ 100 điểm trở lên giá là 22.500 đồng/điểm, mua số lô dưới 100 điểm giá là 23.000 đồng/điểm, còn mua trên 1000 điểm giá là 22.000 đồng/điểm, nhận tin nhắn ghi số lô trước 18 giờ 05 phút, số đề trước 18 giờ 15 phút hàng ngày. Căn cứ vào kết quả mở thưởng trong ngày của xổ số kiến thiết miền B. Đối với số đề trùng với hai số cuối của giải đặc biệt là trúng đề thì Nguyễn Thị N1 sẽ phải trả cho Mộc Đức M2 số tiền trúng gấp 70 lần số tiền đánh cược. Đối với số lô thường sẽ so với hai số cuối của tất cả các giải thưởng, nếu trùng nghĩa là trúng lô thì sẽ phải trả số tiền 80.000đ/1điểm, tối đa là ba lần. Nguyễn Thị N1 sử dụng số tài khoản “3750175520” mang tên “NGUYEN THI NGA” tại ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1, chi nhánh L3 (B1) để thanh toán.
Ngày 19/01/2024, Mộc Đức M2 sử dụng số điện thoại 0985.354.xxx nhắn tin SMS đến số thuê bao 0987.906.200 của Nguyễn Thị N1 để mua số lô, số đề với tổng số tiền là 49.800.000 đồng (Bốn mươi chín triệu tám trăm nghìn đồng) gồm: 1400 điểm lô tương đương với 30.800.000 đồng và 19.000.000 đồng tiền đề. Số tiền này Nguyễn Thị N1 và Mộc Đức M2 chưa thanh toán với nhau.
Về vật chứng, cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Thị N1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số Imei: 356723089042966, bên trong lắp 01 thẻ sim thuê bao 0987.906.200. Tiền ngân hàng N3 5.433.000 đồng; 01 (một) thẻ ngân hàng A1 số 9704053072472259 mang tên Nguyễn Thị N1; 01 thẻ ngân hàng B1 số 9704180090938341 mang tên Nguyễn Thị N1.
Ngày 25/01/2024, Mộc Đức M2 đã đến Phòng C Công an tỉnh L đầu thú về hành vi mua bán số lô, đề với Nguyễn Thị N1 ngày 19/01/2024. Tiến hành thu giữ của Mộc Văn M3 01 sim điện thoại số thuê bao 0985.354.xxx. Ngày 28/01/2024 Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Phan Văn T1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6plus, màu bạc, số IMEI: 35860707011167506, bên trong lắp 01 thẻ sim thuê bao 0977065343.
Cáo trạng số 74/CT-VKSTPLC ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Thị N1 về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, các bị cáo Mộc Đức M2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; Điều 17; Điều 58; Điều 65; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 - Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N1 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm. Phạt bổ sung bị cáo 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 36; Điều 58; điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Mộc Đức M2 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để kết luận ngày 19/01/2024 bị cáo Nguyễn Thị N1 và Mộc Đức M2 đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức mua, bán số đề, số lô. Số tiền mà các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc được xác định như sau: Số tiền bị cáo Nguyễn Thị N1 sử dụng để đánh bạc là 65.368.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng) gồm 1750 điểm lô tương đương số tiền 38.715.000 đồng, số đề là 26.653.000 đồng; Số tiền bị cáo Mộc Đức M2 sử dụng để đánh bạc là 49.800.000 đồng (Bốn mươi chín triệu tám trăm nghìn đồng). Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thị N1 đã cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tăng nặng “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;”. Hành vi của bị cáo Mộc Đức M2 đã cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết về pháp luật, nhận thức rõ pháp luật nghiêm cấm hành vi đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, nhưng do các bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, muốn có tiền sử dụng cho mục đích cá nhân nên đã thực hiện việc đánh bạc trái phép bằng hình thức mua, bán số lô, đề được thua bằng tiền và để hưởng hoa hồng phần trăm chênh lệch. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, vi phạm nếp sống văn minh, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội địa phương. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
[4] Về vai trò của các bị cáo:
Đây là vụ án đồng phạm nhưng có tính chất giản đơn, quá trình phạm tội không có sự tổ chức, câu kết chặt chẽ giữa các bị cáo. Bị cáo Nguyễn Thị N1 xác định là người trực tiếp nhận ghi số lô, số đề sau đó tổng hợp chuyển đi cho người nữ giới tên H để được hưởng phần trăm hoa hồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Đối với bị cáo Mộc Đức M2 là người trực tiếp mua số lô, số đề của bị cáo Nguyễn Thị N1 nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò sau bị cáo Nguyễn Thị N1.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Thị N1 sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tham gia đóng góp an sinh xã hội và được UBND xã T, thành phố L xác nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, ngoài ra bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Công T được Bộ xác nhận đã tham gia dân công hỏa tuyến nên cần xem xét mức án phù hợp đối với bị cáo vừa đảm bảo răn đe, giáo dục, vừa thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.
Bị cáo Mộc Đức M2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Năm 2017 bị cáo được Thống đốc Ngân hàng N3 tặng Bằng khen; Ngày 25/01/2024 bị cáo đã ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của các bị cáo thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Thị N1 có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải, không gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng khi điều tra, xét xử vụ án. Bị cáo có nhân thân tốt, gia đình được chính quyền địa phương xác nhận là gia đình văn hóa, có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Vì vậy, xét thấy, không cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù giam, bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Bị cáo Mộc Đức M2 có 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải, không gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng khi điều tra, xét xử vụ án. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Vì vậy, xét thấy, không cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù giam, bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được hưởng mức án cải tạo không giam giữ không gây nguy hiểm, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thị N1 có tài sản riêng hiện đang phong tỏa tại Ngân hàng nên cần xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Đối với bị cáo Mộc Đức M2 xét thấy không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6plus, màu bạc, số IMEI: 35860707011167506, bên trong lắp 01 thẻ sim thuê bao 0977065343 tạm giữ của Phan Văn T1; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số Imei: 356723089042966, bên trong lắp 01 thẻ sim thuê bao 0987.906.200 tạm giữ của Nguyễn Thị N1 là công cụ thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; Đối với 01 (một) thẻ ngân hàng A1 số 9704053072472259 mang tên Nguyễn Thị N1; 01 thẻ ngân hàng B1 số 9704180090938341 mang tên Nguyễn Thị N1 không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Đối với 01 sim điện thoại Vinaphone có dãy số [...] 11633926934; 01 (một) sim điện thoại số thuê bao 0985.354.xxx tạm giữ của Mộc Đức M2 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền Ngân hàng N3 5.433.000 đồng (Năm triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn) thu giữ của Nguyễn Thị N1 đang gửi tại tài khoản 394909049863 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L mở tại Kho bạc Nhà nước Lào Cai, trong đó có 2.164.000 đồng là tiền bị cáo do phạm tội mà có vì vậy cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước, đối với số tiền còn lại 3.269.000 là tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành khoản tiền phạt nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với số tiền 30.297.137 đồng (Ba mươi triệu hai trăm chín mươi bẩy nghìn một trăm ba mươi bẩy đồng) được phong toả trong tài khoản 3750175520 của Nguyễn Thị N1 mở tại ngân hàng B1 chi nhánh L3 tên NGUYEN THI NGA trong đó có 4.610.000 đồng là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, số tiền còn lại 25.687.137 đồng cần trả lại cho bị cáo tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành khoản tiền phạt nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[8] Về các vấn đề khác: Đối với Phan Văn T1, Phạm Văn B và Phan Anh T2 đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức nhắn tin các số lô đề đến bị cáo Nguyễn Thị N1. Quá trình điều tra căn cứ Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Ngày 03/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Mua bán các số lô, số đề” là đúng quy định của pháp luật.
Đối với những người có tài khoản Z tên: “Hình”; “M4”; “Trung Nghĩa”; “Khánh Bi”, “ngộ không” mà Nguyễn Thị N1 kết bạn để nhận tin nhắn số lô, số đề và chuyển tin nhắn số lô, số đề. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã tiến hành xác minh nhưng đến nay chưa xác định được căn cước, địa chỉ cụ thể, do vậy chưa có đủ căn cứ xử lý, khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với nội dung Nguyễn Thị N1 khai nhận: Ngày 19/01/2024 đã chuyển 03 tin nhắn số lô, số đề cho người phụ nữ tên H qua tài khoản Zalo tên “ngộ không” và qua ứng dụng Telegram tên “AL”. Quá trình điều tra xác định: Cao Thị H1 (sinh năm 1985, nơi thường trú: Tổ D, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai) không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Thị N1. Bản thân Cao Thị H1 chỉ sử dụng số điện thoại 0961.665.xxx và 0344265906 để liên lạc và sử dụng số điện thoại 0344.265.xxx để đăng ký tài khoản Zalo tên Phương A, không sử dụng mạng xã hội Telegram. Ngoài lời khai của Nguyễn Thị N1 không có tài liệu nào khác để chứng minh làm rõ. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh nội dung việc chuyển số lô, số đề của Nguyễn Thị N1 và Cao Thị H1. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi có đủ căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau là phù hợp.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; Điều 17; Điều 58; Điều 65; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 - Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N1 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 36; Điều 58; điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Mộc Đức M2 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6plus, màu bạc, số IMEI: 35860707011167506, bên trong lắp 01 thẻ sim thuê bao 0977065343; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số Imei: 356723089042966, bên trong lắp 01 thẻ sim thuê bao 0987.906.200;
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị N1 01 (một) thẻ ngân hàng A1 số 9704053072472259 mang tên Nguyễn Thị N1; 01 thẻ ngân hàng B1 mang tên Nguyễn Thị N1;
Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại Vinaphone có dãy số [...] 11633926934; 01 (một) sim điện thoại số thuê bao 0985.354.xxx.
(Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2024)
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 2.164.000 đồng (Hai triệu một trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) trong tổng số tiền 5.433.000 đồng (Năm triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn) tạm giữ của bị cáo Nguyễn Thị N1 đang gửi tại tài khoản 394909049863 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L mở tại Kho bạc Nhà nước Lào Cai, tiếp tục tạm giữ số tiền còn lại 3.269.000 đồng (Ba triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án.
Giải tỏa lệnh phong tỏa tài sản số 73/LPT-CSHS ngày 29/01/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 4.610.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm mười nghìn đồng) trong tổng số tiền 30.297.137 đồng (Ba mươi triệu hai trăm chín mươi bẩy nghìn một trăm ba mươi bẩy đồng) được phong toả trong tài khoản 3750175520 của Nguyễn Thị N1 mở tại ngân hàng B1 chi nhánh L3 tên NGUYEN THI NGA, tiếp tục tạm giữ số tiền còn lại là 25.687.137 đồng (Hai mươi lăm triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn một trăm ba mươi bẩy đồng) để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ N, MỘC ĐỨC M
