TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 83/2024/HS-ST
Ngày: 24-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Mai Hoa – Phó Hiệu trưởng Trường tiểu học Bàu Sen
Ông Tố Tấn Chương- Cán bộ hưu trí
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nhâm Võ Thành T (tên gọi khác: T nhỏ), sinh ngày 02 tháng 5 năm 2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi thường trú: 3 P, Phường D, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 09/12; dân tộc: Hoa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nhâm Hồng M; con bà: Võ Thị Kim C; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/11/2023 (có mặt tại phiên tòa).
- Nguyễn Trường N, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1996 tại Quảng Nam; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở: 2 Đ, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn N1; con bà: Bùi Thị H; Có vợ tên Trần Thị Minh N2; Chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/11/2023 (có mặt tại phiên tòa).
- Phạm Dương Trí T1 (tên gọi khác: Tài R), sinh ngày 05 tháng 01 năm 2006 tại Tiền Giang; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ E, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở: 9 T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Ngọc L; con bà: Phạm Thu N3; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 (có mặt tại phiên tòa).
- Bành Nguyễn Gia K, sinh ngày 02 tháng 01 năm 2003 tại Đồng Tháp; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 22/2, ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bành Kim H1; con bà: Nguyễn Thị Ú; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2023 (có mặt tại phiên tòa).
- Nguyễn T2, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 4 P, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Sinh viên; Học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T3; con bà: Nguyễn Thị Thu C1; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến ngày 15/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
- Nguyễn Tấn G, sinh ngày 02 tháng 8 năm 2000 tại Bình Thuận; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Tấn S; con bà: Hoàng Thị C2; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2024 (có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trường N: Ông Nguyễn Trương T4, Luật sư thuộc Công ty L1 - Đoàn luật sư Thành phố H; Địa chỉ liên lạc: 185 Đường số C, Khu dân cư K, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo N4 Võ Thành T: Ông Nguyễn Thanh G1, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, Thành phố H (có mặt).
Bị hại: Ông Chử Quốc H2, sinh năm 1981; Nơi cư trú: 0 T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Bùi Ngọc T5, sinh năm 1991; Nơi cư trú: 0 đường số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Vũ Trần Ngọc T6, sinh năm 1972; Nơi cư trú: 23/18/11/1 N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Tăng Chí K1, sinh năm 2000; Nơi cư trú: 4 T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Võ Thị Kim C, sinh năm 1980; Nơi cư trú: 3 P, Phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Đinh Thị Phương T7, sinh năm 1994; Nơi cư trú: 2 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1966; Nơi cư trú: 4 P, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Vũ Đức T8, sinh năm 2002; Nơi cư trú: 23/18/11/1 N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 15/7/2023, Nhâm Võ Thành T nhận được tin nhắn qua zalo mua Vape (máy hút thuốc lá điện tử) của một người có tài khoản tên "Nam" (không rõ lai lịch) với giá 250.000 đồng. "Nam" hẹn Thành Tài giao hàng lúc 05 giờ 30 phút ngày 16/7/2023 tại nhà số F N, Phường A, Quận E. Khoảng 05 giờ 00 ngày 16/7/2023, Thành T cùng Bành Nguyễn Gia K đến đầu hẻm S N, T được "Nam" hướng dẫn đi vào trong hẻm đến nhà số F N để đưa V cho "Nam". Khi "Nam" kiểm tra hàng thì cả hai xảy ra mẫu thuẫn nên "Nam" gọi thêm 02 người đàn ông từ trong nhà ra đánh T và yêu cầu chuyển khoản tiền. T sợ nên đăng nhập vào tài khoản số 19038993407011, mang tên Trương Mỹ O mở tại T14 chuyển 3.800.000 đồng đến tài khoản số [...] mang tên Dang Duc D, mở tại M1.
Sau khi bị chiếm đoạt tiền, Thành T cùng K điều khiển xe mô tô Honda Click biển số 59K1-82824 đi về nhà của Nguyễn Trường N tại địa chỉ 9 T, phường B, quận B và thông báo cho Phạm Dương Trí T1, Nguyễn Tấn G cũng có mặt tại nhà của N kể về việc mình bị chiếm đoạt tiền và rủ cả nhóm đi nói chuyện (tất cả đều ngầm hiểu đi chém nhau) thì cả nhóm đồng ý, N điện thoại cho Nguyễn T2 kêu đến địa chỉ F N, Phường A, Quận E chờ để đón N, K điện thoại cho Bùi Ngọc T5 nói “anh qua chở em đi có việc” và nói T5 đến địa chỉ 9 T, phường B, quận B để đón K. Sau đó, K điều khiển xe chở theo Thành Tài qua quán "Boss", địa chỉ C N, phường P, quận T gặp "T9 mập" (không rõ lai lịch) mượn dao bỏ trong túi ni lông màu đen rồi điều khiển xe quay lại số I T, phường B, quận B. Tại đây, K lấy một cây dao nhét vào phía trong người, N bỏ 03 cây dao còn lại vào túi ni lông để trong xe Vario biển số 92G1-325.65 rồi cả nhóm điều khiển xe đến địa chỉ F N, Phường A, Quận E. (N điều khiển xe Vario biển số 92G1-325.65 chở Trí T1, G điều khiển xe hiệu Click biển số 59P2-504.18 chở Thành T, K ở lại đợi Bùi Ngọc T5 tới rồi đi đến sau, T2 điều khiển xe Nouvo biển số 59T1-435.87 từ nhà ở P chạy xe đến).
Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, cả nhóm đến trước hẻm F N, Phường A, Quận E thì N đưa túi ni lông màu đen chứa dao để N, Trí T1 và Thành T lấy mỗi người một cây dao cầm trên tay, sau đó vứt túi ni lông trên xuống đất, T2 đến nhặt túi ni lông lên để cất thì phát hiện vẫn còn 01 con dao bên trong nên định bỏ vào cốp xe cất nhưng không vừa nên T2 cất trên baga xe Nouvo biển số 59T1-435.87 do T2 điều khiển. T5 chở K đến nơi thì thấy G, Thành T, Trí T1, T2, N đã đợi sẵn. N, K, Trí T1 và Thành T cầm dao đi thẳng vào nhà số F N, còn T2, G, T5 đứng phía ngoài đợi, cảnh giới và nổ máy xe chờ sẵn. Do nhà không khóa cửa nên N, K, Trí T1 và Thành T xông vô tầng trệt của nhà. Trong nhà lúc này có ông Chử Quốc H2 đang nằm ở tầng trệt, chị Chử Kiều C3 (con gái ông H2) và Nguyễn Văn T3 ở trên lầu. N, K, Trí T1 và Thành T thấy ông Chử Quốc H2 đang nằm, do ông H2 có hình xăm giống với các đối tượng đã chiếm đoạt tiền của Thành T trước đó nên lao vào chém ông H2 nhiều nhát trúng vào vai, tay, chân. Thành T và N chạy lên lầu tìm người để tiếp tục chém tuy nhiên ông T3 đã kịp đóng cửa nên Thành T và N không chém được. Lúc này, chị C3 chạy ra ngoài kêu cứu, Bùi Ngọc T5 đi vào nhà nói “thôi đi ra đi” nên N, K, Trí T1 và Thành T bỏ đi ra ngoài. Ông Chử Quốc H2 được ông Phạm Văn T10 chở đi cấp cứu tại bệnh viện C5, Phường A, Quận E.
Sau khi chém ông H2, cả nhóm cầm hung khí chạy ra khỏi nhà, T5 điều khiển xe mô tô SH biển số 59D2-372.85 chở K, T2 điều khiển xe Nouvo biển số 59T1-435.87 chở Thành T, N điều khiển xe Vario biển số 92G1-325.65 đi một mình, G điều khiển xe Click biển số 59P2-504.18 chở Trí T1 tẩu thoát về nhà tại 9 T, phường B, quận B. Sau khi về nhà, các bị cáo đã vứt bỏ các con dao, không thể thu hồi.
Ngày 21/7/2023, ông H2 làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để tiến hành điều tra theo thẩm quyền. Ngày 04/12/2023, ông Chử Quốc H2 làm đơn bãi nại đối với tất cả các đối tượng trong vụ việc cố ý gây thương tích cho ông H2.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 580/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 18/8/2023 của Trung tâm Pháp y Thành phố H xác định ông Chử Quốc H2 bị thương tích như sau:
- Các kết quả chính:
- Vết thương mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải gây đứt da, đứt toàn bộ gân cơ duỗi các ngón đã được điều trị khâu gân cơ, da, hiện còn: Một sẹo kích thước 16x(0,05-0,2)cm. Tổn thương hoàn toàn thần kinh gian cốt sau ngay dưới vị trí vết thương trên điện cơ đồ. Hạn chế duỗi các ngón, không cứng khớp. Có tỷ lệ 13% (Mười ba phần trăm).
- Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn:
- Một sẹo mặt trước vai – cánh tay trái kích thước 7,5x(0,05-0,2)cm. Có tỷ lệ 02% (Hai phần trăm).
- Một sẹo mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái kích thước 2x0,1cm. Có tỷ lệ 01% (Một phần trăm).
- Một sẹo kẽ ngón I-II bàn tay trái kích thước 7,5x(0,1-0,5)cm. Có tỷ lệ 02% (Hai phần trăm).
- Một sẹo mặt trước trong đùi – gối phải kích thước 7,3x(0,05-0,3)cm. Có tỷ lệ 02% (Hai phần trăm).
- Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Chử Quốc H2 tại thời điểm giám định là: 19% (Mười chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác:
- Tất cả các thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng.
- Các chấn thương trên không gây nguy hiểm đến tính mạng.
- Thông tư 22/2019/TT-BYT không quy định về: Cố tật, tính thẩm mỹ đối với trường hợp này.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Nhâm V, Nguyễn Trường N, Bành Nguyễn Gia K2, Phạm Dương Trí T1, Nguyễn T2, Nguyễn Tấn G đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên.
Bùi Ngọc T5 khai nhận: T5 không biết về việc chở K2 đến địa chỉ F N để gây thương tích. Quá trình chở K2 từ quận B đến Quận E, K2 chỉ nói với T5 là “đi nói chuyện”, T5 không biết việc K2 cất giấu dao bên trong người. Khi đến hẻm F N, T5 không thấy N, Trí T1, Thành T, K2 cầm dao đi vào hẻm để chém ông Chử Quốc H2. Sau khi thấy chị Chử Kiều C3 chạy ra kêu cứu, T5 mới biết và chạy vào trong nhà 680/95 Nguyễn T11 để kêu tất cả đi về đứng chém người ta nữa. T5 không biết có sự việc chém gây thương tích, do hoảng hốt nên chở K2 về nhà.
Bành Nguyễn Gia K2 khai nhận: K2 không biết T5 biết sự việc đi chém ông H2 hay không, khi được T5 chở đi và về, K2 và T5 không nói chuyện với nhau, không thông báo về việc đi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích.
Nhâm Võ Thành T, Nguyễn Trường N đều khai nhận không biết T5 có biết sự việc hay không do Thành T và N đều không thông báo cho T5 biết.
Lời khai, biên bản đối chất, nhận dạng của Nhâm Võ Thành T, Nguyễn Trường N, Bành Nguyễn Gia K2, Phạm Dương Trí T1, Nguyễn T2, Nguyễn Tấn G phù hợp với nội dung diễn biến vụ việc, phù hợp với nhau và phù hợp lời khai của ông Chử Quốc H2 cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) USB chứa dữ liệu video ghi nhận vụ việc các đối tượng đỗ xe bên trái cổng của Hội quán N7, địa chỉ F N, Phường A, Quận E ngày 15/7/2023; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Click, màu xám, biển số 59P2-504.18; 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda Click màu đỏ, biển số 59K1-828.24; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) xe mô tô hiệu Vario màu đen, biển số 92G1-325.65; 01 (một) xe máy hiệu Nouvo màu xanh trắng, biển số 59T1-435.87; 01 (một) xe máy hiệu Honda Wave Blade màu trắng đen, biển số 59D2-068.06; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại hiệu Oppo A5 2020 màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Asus Rog Phone 5 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 S9 plus, màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) quần dài, vải màu đen; 01 (một) áo khoác dài tay xám trắng, đã qua sử dụng; 02 (hai) chiếc dép đã qua sử dụng; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh là cây, có dòng chữ “Gojek” (đã qua sử dụng); 01 (một) áo khoác, dài tay màu đen, xanh lá cây có dòng chữ “Gojek” (đã qua sử dụng); 01 (một) nón bảo hiểm màu cam, có dòng chữ “D1” “Gojek” (đã qua sử dụng).
Về trách nhiệm dân sự: Ông Chử Quốc H2 đã được các bị cáo bồi thường thiệt hại nên đã làm đơn bãi nại và không yêu cầu gì thêm.
Bản cáo trạng số: 78/CT-VKSQ5 ngày 09/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nhâm Võ Thành T12, Nguyễn Trường N, Bành Nguyễn Gia K2, Phạm Dương Trí T1, Nguyễn T2, Nguyễn Tấn G về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nhâm Võ Thành T12, Nguyễn Trường N, Bành Nguyễn Gia K2, Phạm Dương Trí T1, Nguyễn T2, Nguyễn Tấn G về tội: “Cố ý gây thương tích”.
Đề nghị áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nhâm Võ Thành T12 với mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng; bị cáo Phạm Dương Trí T1 với mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù;
Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Trường N với mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù; bị cáo Bành Nguyễn Gia K2 với mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù; bị cáo Nguyễn Tấn G với mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn T2 với mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng từ nhưng cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Chử Quốc H2 đã được bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét không xem xét giải quyết; về vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Luật sư Nguyễn Trương T4 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trường N trình bày: Nguyên nhân dẫn đến vụ việc cố ý gây thương tích là do đối tượng tên N5 đã có hành vi chiếm đoạt tiền của bị cáo Nhâm Võ Thành T12 nên bị cáo N và các bị cáo khác là những người trong nhóm chạy xe công nghệ với nhau đã hỗ trợ bị cáo Thành T12 dẫn đến hành vi phạm tội. Bị cáo N phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và chính bị cáo đã bỏ tiền bồi thường cho các bị cáo khác nên bị hại đã có đơn bãi nại cho bị cáo và cả các bị cáo khác; bị cáo phạm tội lần đầu và nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo N đang bị bệnh viêm phổi và bị bệnh khác thuộc diện được hưởng trợ cấp của nhà nước; bản thân bị cáo N đã học xong chương trình đại học do thất lạc bằng cấp nên không xin được việc làm phải chạy xe ôm công nghệ. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xét xử bị cáo N với mức án bằng với thời gian tạm giam cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, giúp bị cáo tái hòa nhập cộng đồng. Về chiếc xe của bị cáo N bị cơ quan điều tra thu giữ không có liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo N.
Trợ giúp viên pháp lý ông Nguyễn Thanh G1 bào chữa cho bị cáo Nhâm Võ Thành T12 trình bày: Nguyên nhân dẫn đến hành vi cố ý gây thương tích là do bị cáo Thành T12 bị chiếm đoạt tài sản, các bị cáo phạm tội có đồng phạm nhưng chỉ mang tính giản đơn, bị cáo Thành T12 phạm tội có các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khái báo, ăn năn hối cải; phạm tội đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn bãi nại; phạm tội là người chưa thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s, b khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét xử phạt bị cáo Thành T12 với mức án thấp nhất so với Viện kiểm sát đã đề nghị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 có ý kiến: Bị cáo Nguyễn Trường N tham gia thực hiện hành vi phạm tội rất tích cực, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của từng bị cáo nên đã đề nghị mức án phù hợp, vì vậy giữ nguyên quan điểm đề nghị với các bị cáo. Về vật chứng là chiếc xe do bị cáo N đứng tên chủ sở hữu sử dụng làm phương tiện phạm tội nên đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước là phù hợp.
Đối với bị cáo N4 Võ Thành T12 phạm tội là người khởi xướng, cầm đầu. Tuy nhiên, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà người bào chữa nêu Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 cũng đã xem xét. Việc người bào chữa đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử bị cáo Thành T12 dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là chưa phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo Nhâm Võ Thành T12 và Nguyễn Trường N đều trình bày: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền 50.000.000 đồng, do các bị cáo khác chưa có điều kiện bồi thường nên bị cáo tạm ứng ra bồi thường cho các bị cáo còn lại sau này có điều kiện sẽ trả lại cho bị cáo sau.
Các bị cáo Bành Nguyễn Gia K2, Phạm Dương Trí T1, Nguyễn T2, Nguyễn Tấn G đều trình bày: Các bị cáo có nói với bị cáo N4 Võ Thành T12 và Nguyễn Trường N bồi thường cho các bị cáo luôn, sau này các bị cáo có điều kiện sẽ hoàn trả lại cho bị cáo Thành T12 và N về số tiền mà các bị cáo đã bồi thường.
Các bị cáo không có ý kiến bổ sung bào chữa, bào chữa, không tranh luận và đều nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Ngoài ra không còn ý kiến tranh luận nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa công khai, các bị cáo Nhâm Võ Thành T12, Nguyễn Trường N, Bành Nguyễn Gia K2, Phạm Dương Trí T1, Nguyễn T2, Nguyễn Tấn G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, bản kết luận giám định pháp y, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản nhận dạng, biên bản đối chất và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 16/7/2023, tại nhà số F N, Phường A, Quận E, các bị cáo Nhâm Võ Thành T12, Nguyễn Trường N, Nguyễn Gia K2, Phạm Dương Trí T1 mặc dù không có mâu thuẫn từ trước với ông Chử Quốc H2 nhưng các bị cáo đã có hành vi cùng nhau sử dụng dao là hung khí nguy hiểm, chém nhiều nhát vào vai, tay, chân của ông H2 dẫn đến gây thương tích. Theo bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 580/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 18/8/2023 của Trung tâm Pháp y Thành phố H xác định ông Chử Quốc H2 với tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 19% (mười chín phần trăm). Riêng bị cáo Nguyễn Tấn G và Nguyễn T2 không trực tiếp tham gia chém ông H2 nhưng đứng ngoài cảnh giới và chờ chở đồng bọn chạy tẩu thoát. Do đó, hành vi của các bị cáo Nhâm Võ Thành T12, Nguyễn Trường N, Bành Nguyễn Gia K2, Phạm Dương Trí T1, Nguyễn T2, Nguyễn Tấn G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét các bị cáo Nguyễn Trường N, Bành Nguyễn Gia K2, Nguyễn T2, Nguyễn Tấn G là người có đầy đủ năng lực hành vi; riêng các bị cáo Nhâm Võ Thành T12, Phạm Dương Trí T1 lúc phạm tội chưa đủ 18 tuổi nhưng cũng có khả năng nhận thức được việc làm của mình, các bị cáo đều biết hành vi sử dụng dao là hung khí nguy hiểm, chém vào cơ thể người khác gây thương tích là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Xét đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, trong vụ án này bị cáo N4 Võ Thành T12 là người rủ rê, khởi xướng và là người trực tiếp thực hiện hành vi chém gây thương tích cho ông H2, bị cáo Bành Nguyễn Gia K2 là đồng phạm tích cực cùng với bị cáo Thành T12 đi lấy hung khí là các con dao và tham gia tích cực trực tiếp trong việc chém ông H2, các bị cáo Phạm Dương Trí T1, Nguyễn Trường Nghĩa 1 đồng phạm tích cực tham gia trực tiếp chém ông H2, bị cáo Nguyễn Tấn G điều khiển xe gắn máy chở Thành T12 đến chém ông H2 và đứng bên ngoài cảnh giới chờ để chở đồng bọn chạy tẩu thoát sau khi thực hiện hành vi chém nhau. Riêng bị cáo Nguyễn T2 lúc đầu không biết đến hẻm F N, Phường A, Quận E là để chém nhau nhưng khi đến nơi thì bị cáo mới biết là nhóm của các bị cáo chuẩn bị chém nhau (các bị cáo khác nói cho bị cáo T2 biết) nhưng bị cáo vẫn đồng tình tham gia giúp sức bằng cách đậu xe ngồi ở ngoài cảnh giới và chờ chở các bị cáo khác chạy tẩu thoát sau khi thực hiện hành vi chém nhau.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo; nhằm mục đích giáo dục các bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo Thành T12 đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền 50.000.000 đồng; bị cáo N đã tác động gia đình cùng với số tiền của bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền 50.000.000 đồng và được bị hại có đơn bãi nại cho các bị cáo; các bị cáo mới phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Thành T12 và N tạm thời ứng ra bồi thường cho các bị cáo khác, sau này các bị cáo khác có tiền sẽ trả lại cho bị cáo N và Thành T12; riêng bị cáo Thành T12 và Trí T1 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi. Do đó, cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét khi lượng hình.
[5] Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Nhâm Võ Thành T12, Nguyễn Trường N, Nguyễn Gia K2, Phạm Dương Trí T1 là người trực tiếp thực hiện hành vi chém ông H2, thể hiện sự xem thường pháp luật, ngang nhiên và có tính chất côn đồ nên cần buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định.
Bị cáo Nguyễn Tấn G phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức, tuy không trực tiếp chém ông H2 nhưng bị cáo tích cực tham gia hưởng ứng ngay từ đầu và hiện không có nơi ở nhất định nên cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Riêng bị cáo Nguyễn T2 phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức không đáng kể, bản thân bị cáo tham gia thụ động, khi đến nơi mới biết các bị cáo khác chuẩn bị chém người khác (ông H2), do là bạn chạy xe công nghệ chung với nhau nên bị cáo T2 đồng tình tham gia và đậu xe đứng bên ngoài cảnh giới chờ các bị cáo khác thực hiện hành vi chém nhau rồi chở các bị cáo chạy tẩu thoát. Xét bị cáo mới phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, hiện là sinh viên đang học năm thứ 4 tại Trường Đại học Công nghiệp Thành phố H, có nơi ở ổn định và trong thời gian được tại ngoại bị cáo không có vi phạm gì nên không cần thiết bắt bị cáo cách ly ra khỏi xã hội mà xét cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục học tập để trở thành người có ích cho xã hội, như vậy cũng phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về ý kiến trình bày của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trường N và Nhâm Võ Thành T12 nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là có căn cứ chấp nhận, nhưng đề nghị xem xét cho các bị cáo N và Thành T12 được hưởng hình phạt thấp nhất dưới khung hình phạt theo Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là không phù hợp, bởi hành vi phạm tội của các bị cáo N và Thành T12 quá manh động, xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, bên cạnh đó bị cáo Thành T12 là người khởi xướng dẫn đến chém người khác gây thương tích.
[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[9] Đối với Bùi Ngọc T5 có hành vi chở Bành Nguyễn Gia K2 đến địa chỉ F N, Phường A, Quận E và chở K2 tẩu thoát sau khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích nhưng do T5 không biết sự việc chém nhau, không tham gia vào việc thực hiện hành vi chém nhau và cũng không có bị cáo nào nói cho T5 biết là đi chém nhau, bên cạnh đó khi nghe chị Chữ Kiều C4 chạy ra kêu cứu, T5 đã chạy vào trong nhà kêu các bị cáo khác đi về và không được chém người ta nữa nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không đủ cơ sở để xử lý đối với T5 với vai trò đồng phạm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với đối tượng “Tuấn Mập” là người cung cấp hung khí, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đang tiếp tục xác minh, khi nào tìm được sẽ xem xét xử lý sau.
Đối với việc Nhâm Võ Thành T12 khai bị đối tượng tên “N5” chiếm đoạt số tiền 3.800.000 đồng, Cơ quan điều tra đã trích xuất sao kê tài khoản số [...] mang tên DANG DỤC DUY, mở tại M1 không thể hiện vào ngày 16/7/2023 nhận số tiền trên, hiện chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo Thành T12, không có chứng cứ nào khác, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa đủ căn cứ xem xét khởi tố về hành vi chiếm đoạt tiền của đối tượng tên “Nam”.
[10] Về xử lý vật chứng:
Xét 01 (một) USB chứa dữ liệu video ghi nhận vụ việc các đối tượng đỗ xe bên trái cổng của Hội quán N7, địa chỉ F N, Phường A, Quận E ngày 15/7/2023 là tài liệu chứng cứ đang lưu theo hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
Xét 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Click, màu xám, biển số 59P2-504.18 do ông Tăng Chí K1 đứng tên chủ sở hữu, ông K1 đã bán chiếc xe trên cho người không rõ lai lịch, bị cáo Thành T12 có được không rõ nguồn gốc và sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên trong thời gian nhất định, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda Click màu đỏ, biển số 59K1-828.24 do bà Võ Thị Kim C đứng tên chủ sở hữu, bà C để xe ở nhà, bị cáo Thành T12 (con ruột bà C) tự ý lấy đi, bà C không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà C là phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh (đã qua sử dụng) là tài sản cá nhân của bị cáo Nhâm Võ Thành T12, sử dụng liên lạc rủ rên thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Xét 01 (một) xe mô tô hiệu Vario màu đen, biển số 92G1-325.65 do Nguyễn Trường N đứng tên chủ sở hữu, N sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi pham tội nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.
01 (một) xe máy hiệu Nouvo màu xanh trắng, biển số 59T1-435.87 do ông Nguyễn Văn T3 (Cha ruột của T2) đứng tên chủ sở hữu, ông T3 giao xe cho T2 để đi học. Ông T3 không biết T2 có sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại chiếc xe trên cho ông T3 là đúng quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
01 (một) xe máy hiệu Honda Wave Blade màu trắng đen, biển số 59D2-068.06 do ông Vũ Trần Ngọc T13 đứng tên chủ sở hữu, ông T13 đưa cho con trai tên Vũ Đức T8 sử dụng, T8 cho bị cáo T2 mượn sử dụng, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho ông T13.
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh (đã qua sử dụng) là tài sản cá nhân của bị cáo Bành Nguyễn Gia K2, sử dụng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Xét 01 (một) điện thoại hiệu Oppo A5 2020 màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng (đã qua sử dụng) là tài sản cá nhân của bị cáo Nguyễn Tấn G, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo G.
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Asus Rog Phone 5 (đã qua sử dụng) là tài sản cá nhân của Bùi Ngọc T5, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho T5.
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 S9 plus, màu đen (đã qua sử dụng) là tài sản cá nhân của bị cáo Nguyễn T2, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo T2.
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu đen (đã qua sử dụng) là tài sản cá nhân của bị cáo Phạm Dương Trí T1, sử dụng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu đen (đã qua sử dụng) là tài sản cá nhân của bị cáo Nguyễn Trường N, sử dụng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Xét 01 (một) quần dài, vải màu đen; 01 (một) áo khoác dài tay xám trắng, đã qua sử dụng; 02 (hai) chiếc dép đã qua sử dụng; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh là cây, có dòng chữ “Gojek” (đã qua sử dụng); 01 (một) áo khoác, dài tay màu đen, xanh lá cây có dòng chữ “Gojek” (đã qua sử dụng); 01 (một) nón bảo hiểm màu cam, có dòng chữ “D1” “Gojek” (đã qua sử dụng) là vật dung cá nhân thu giữ của bị cáo N và tại phiên tòa bị cáo N không có yêu cầu nhận lại, Hội đồng xét xử xét thấy không còn giá trị sử dụng nữa nên tịch thu tiêu hủy.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Chử Quốc H2 đã được bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nhâm Võ Thành T12 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2023.
Xử phạt bị cáo Phạm Dương Trí T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2023.
Căn cứ điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường N6 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2023.
Xử phạt bị cáo Bành Nguyễn Gia K2 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn G 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2024.
Căn cứ điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều Điều 17; Điều 58; khoản 1, Khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn T2 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn T2 cho Ủy ban nhân dân Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn T2 được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo T2 phải chấp hành hình phạt tù của bản án.
Tiếp tục duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 25/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Nguyễn T2 cho đến khi chấp hành án.
Căn cứ điểm c Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) USB chứa dữ liệu video ghi nhận vụ việc các đối tượng đỗ xe bên trái cổng của Hội quán N7, địa chỉ F N, Phường A, Quận E ngày 15/7/2023 (hiện lưu theo hồ sơ vụ án).
Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo tìm chủ sở hữu hợp pháp 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Click, màu xám, biển số 59P2-504.18 trong thời gian 01 (một) năm, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) xe mô tô hiệu Vario màu đen, biển số 92G1-325.65; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu đen (đã qua sử dụng)
Trả lại cho ông Vũ Trần Ngọc T13: 01 (một) xe máy hiệu Honda Wave Blade màu trắng đen, biển số 59D2-068.06.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tấn G: 01 (một) điện thoại hiệu Oppo A5 2020 màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng (đã qua sử dụng).
Trả lại cho ông Bùi Ngọc T5: 01 (một) điện thoại di động hiệu Asus Rog Phone 5 (đã qua sử dụng).
Trả lại cho bị cáo Nguyễn T2: 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 S9 plus, màu đen (đã qua sử dụng).
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) quần dài, vải màu đen; 01 (một) áo khoác dài tay xám trắng, đã qua sử dụng; 02 (hai) chiếc dép đã qua sử dụng; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh là cây, có dòng chữ “Gojek” (đã qua sử dụng); 01 (một) áo khoác, dài tay màu đen, xanh lá cây có dòng chữ “Gojek” (đã qua sử dụng); 01 (một) nón bảo hiểm màu cam, có dòng chữ “D1” “Gojek” (đã qua sử dụng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
(Đã giải thích chế định về án treo cho bị cáo T2).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nhâm Võ Thành T- Cố ý gây thương tích
