|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST Ngày 24-6-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Lệ Chi.
2. Bà Châu Hồng Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 191/2024/TLST-HNGĐ ngày 23/5/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc L1, sinh năm 1986; thường trú: Tổ 26, ấp 1, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang; tạm trú: Số 90/5 đường T, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn Ph1, sinh năm 1987; thường trú: Tổ 26, ấp 1, xã A, huyện C, tỉnh T; tạm trú: Số 90/5 đường T, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/5/2024 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc L1 trình bày: Bà L1 và ông Ph1 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16 do Ủy ban nhân dân xã Kh, huyện Tr, tỉnh Cà Mau cấp ngày 11/02/2022. Thời gian đầu chung sống hạnh Phúc nhưng sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có sự đồng cảm nên mỗi người có một cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến nhau. Tình cảm vợ chồng không còn nên vợ chồng đã sống ly thân. Nhận thấy, hôn nhân không có hạnh Phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L1 yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn Ph1.
Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc L1 và ông Nguyễn Văn Ph1 không có con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Nguyễn Ngọc L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai nộp cho Tòa án, bị đơn ông Nguyễn Văn Ph1 trình bày: Ông Ph1 và bà L1 là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, ngày 11/02/2022. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân hạnh Phúc nhưng sau đó đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cãi vã thường xuyên, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng, không thể hàn gắn được nên ông Ph1 đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà L1. Tuy nhiên, do không sắp xếp được thời gian nên ông L1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc L1 và ông Nguyễn Văn Ph1 không có con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Ông Nguyễn Văn Ph1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà L1 và ông Ph1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 11/02/2022 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà L1 xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân và yêu cầu được ly hôn. Ông Ph1 thừa nhận vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân, không thể hàn gắn tình cảm nên đồng ý ly hôn. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh Phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, xây dựng gia đình ấm no hạnh Phúc. Bà L1 và ông Ph1 đều thừa nhận quan hệ hôn nhân của hai người có nhiều mâu thuẫn và hiện cả hai đã ly thân, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà L1 và ông Ph1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà L1 và ông Ph1 đồng ý ly hôn, đồng thời có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình thì bà L1 yêu cầu ly hôn với ông Ph1 là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc L1 và ông Nguyễn Văn Ph1 đều khai không có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Nguyễn Ngọc L1 và ông Nguyễn Văn Ph1 không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[6] Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc L1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228 và các Điều 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc L1 và ông Nguyễn Văn Ph1 về việc ly hôn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc L1 được ly hôn với ông Nguyễn Văn Ph1. (Giấy chứng nhận kết hôn số 16 do Ủy ban nhân dân xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau cấp ngày 11/02/2022).
- Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc L1 và ông Nguyễn Văn Ph1 đều tự khai không có con chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Nguyễn Ngọc L1 và ông Nguyễn Văn Ph1 không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc L1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ toàn bộ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002971, ngày 16/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Vân |
Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Lành và Nguyễn Văn Phúc yêu cầu lý hôn
