Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày: 24-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Tùng

Ông Đàm Đình Lập

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Biển, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Linh Đức Hợp, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 346/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vương Văn B, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 09 tháng 9 năm 2005 tại H, Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12 phổ thông; Dân tộc: Nùng; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vương Văn P sinh năm 1978; Con bà: Hoàng Thị C, sinh năm 1976. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2024 đến nay. Hiện nay đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C. Có mặt.

2. Họ và tên: Vi Văn D, tên gọi khác: không; sinh ngày 18 tháng 11 năm 2004 tại H, Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ văn hoá: 10/12 phổ thông; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vi Văn Đ, sinh năm 1982; Con bà: Đặng Thị H, sinh năm 1982. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh C, Có mặt.

3. Họ và tên: Vi Văn T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 14 tháng 08 năm 2005 tại H, Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12 phổ thông; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vi Văn Đ, sinh năm 1982; Con bà: Đặng Thị H, sinh năm 1982. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh C, Có mặt.

4. Họ và tên: Sầm Văn T1, tên gọi khác: không, sinh ngày 08 tháng 02 năm 1997 tại H, Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ văn hoá: Lớp 08/12 phổ thông; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Sầm Văn T2, sinh năm 1971; Con bà: Lương Thị L, sinh năm 1973. Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nông Thị T3, sinh năm 1998; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh C, Có mặt.

5. Họ và tên: Khằm Văn B1, tên gọi khác: không, sinh ngày 16 tháng 01 năm 1997 tại H, Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 04/12 phổ thông; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Khằm Văn N, sinh năm 1973; Con bà: Dương Thị L1, sinh năm 1973. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, Có mặt.

6. Họ và tên: Nông Văn P1, tên gọi khác: không, Sinh ngày 15 tháng 11 năm 2000 tại H, Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 08/12 phổ thông; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nông Văn K, sinh năm 1977; Con bà: Trương Thị H1, sinh năm 1976. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có; Tiền án: 01, năm 2021 bị Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 02 năm tù về tội Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép. Ngày 07/4/2023 chấp hành án xong trở về địa phương; tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, Có mặt.

7. Họ và tên: Sầm Văn N1, tên gọi khác: không, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1998 tại Hà Q, Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 04/12 phổ thông; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Sầm Văn T2, sinh năm 1971; Con bà: Lương Thị L, sinh năm 1973. Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Sầm Văn T1, Vi Văn D, Khằm Văn B1: Bà Nông Thị Thu T4 - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Vương Văn B: Ông Nông Văn S - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C ( Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Vi Văn T, Sầm Văn N1, Nông Văn P1: Bà Hoàng Thị Diệp H2 - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn C1, sinh năm 2005, trú tại: Xóm K, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại khu vực xóm T, xã M, huyện H, tỉnh Cao Bằng, Tổ công tác Công an huyện H bắt quả tang Vương Văn B đang điều khiển xe ô tô mang nhãn hiệu Mitsubishi, màu bạc, biển kiểm soát 11A-028.97, trên xe chở 03 (ba) người Trung Quốc không xuất trình được giấy tờ nhập cảnh hợp pháp theo quy định gồm: Hoàng L2, sinh năm: 2002, trú tại: tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc; Đoạn L, sinh năm: 2007, trú tại tỉnh Cam Túc, Trung Quốc và Lương H3, sinh năm: 2001, trú tại: tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Tạm giữ của B 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đen đã qua sử dụng có sổ Imei: 86143805359730 và 01 (một) xe ô tô mang biển kiểm soát 11A - 028.97 nhãn hiệu Mitsubishi màu bạc đã qua sử dụng. Ngày 18 tháng 01 năm 2024, Vi Văn D, Vi Văn T, Sầm Văn T1 đến Cơ quan điều tra đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình. Ngày 18 tháng 03 năm 2024, Khằm Văn B1, Sầm Văn N1, Nông Văn P1 ra đầu thú tại Cơ quan điều tra .

Quá trình điều tra các bị can khai nhận như sau: Vào khoảng 12 giờ ngày 08 tháng 01 năm 2024, một người đàn ông Trung Quốc (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng tài khoản Wechat có chữ Trung Quốc nhắn tin đến tài khoản Wechat chữ Trung Quốc có hình đại diện nền màu đen và hai con mắt của Vi Văn D với nội dung: Thuê D tìm người đón 06 (sáu) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam từ mốc 715 thuộc địa phận xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng rồi đưa ra Quảng trường thành phố C bàn giao cho người khác, tiền công là 300CNY/01 người, D đồng ý. Hai người trao đổi thời gian đón và việc trả tiền công từ mốc 715 đi xuống đường chính, với số tiền 200 CNY/người, còn tiền công cho người đưa tiếp ra thành phố C sẽ báo lại sau. Sau đó, D liên hệ tài khoản Wechat của Vương Văn B (hình đại diện nhiều con gà) về việc đón 06 (sáu) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép tại xóm R, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng rồi đưa ra thành phố C (đoạn đường rẽ đi huyện N) giao cho người khác, B đồng ý, cả hai thống nhất tiền công là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/01 người. D tiếp tục liên hệ đến tài khoản Wechat của Sầm Văn T1 về việc đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ mốc 715 đưa xuống đường chính xã T, với tiền công 200CNY/01 người nhưng T1 không nhận lời, D liên lạc lại với người thuê D thông báo tiền công cho người đưa ra thành phố C là 2.000.000 đồng/01 người, tương đương khoảng 600CNY nhưng không tìm được người để đón từ mốc 715 xuống, người này đồng ý và báo sẽ tự tìm người đón từ mốc. Về phía B, B tự liên hệ với Vi Văn T thuê T đi cảnh giới và hứa hẹn sẽ chia cho T 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), T đồng ý. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, D được báo đã tìm được người đưa từ mốc xuống đồng thời được gửi cho một mã tài khoản Wechat để kết bạn, thống nhất thời gian, địa điểm. Sau khi kết bạn D thấy một tài khoản cũng bằng chữ Trung Quốc, cả hai trao đổi bằng tiếng dân tộc Nùng thống nhất 06 (sáu) người Trung Quốc từ mốc sẽ đưa xuống một bãi đá ở gần nhà người đàn ông tên K1, tại xóm R, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng, ẩn nấp trong bụi rậm, khi nào thấy một xe ô tô màu xám bạc đến thì cho người đi ra. Tiếp đó, khoảng 04 giờ ngày 09/01/2024 người thuê báo cho D biết đón 06 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ mốc 715 đã gần đến điểm hẹn, D thông báo cho B biết, B sử dụng xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Pajero mang biển số 11A-028.97 mượn của Hoàng Văn C1 (sinh năm: 2005; trú tại: xóm K, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng) đến đón được 06 (sáu) người Trung Quốc nhưng người đón ở thành phố C báo lại trời đã gần sáng không nhận nữa, hẹn đến tối mới giao người, D bảo B đưa những người này vào khe núi ở dốc P thuộc xóm T ẩn nấp. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, B đón 06 (sáu) người Trung Quốc rồi đưa đi theo cung đường T-M-N, B cũng gọi cho T đi trước để cảnh giới, nếu gặp lực lượng chức năng thì báo B biết. Quá trình di chuyển, D gửi cho B một số điện thoại, khi kết bạn Z hiện tên tài khoản “Kiều Nhật”. Khi đi đến vị trí bàn giao, B liên lạc với “Kiều Nhật” bằng cách gửi định vị qua Zalo, sau đó B thấy 01 (một) người lái một xe ô tô (không xác định được biển kiểm soát) đến nhận người Trung Quốc từ Bách. Quá trình giao người Bách quay video lại và gửi cho D để xác nhận. Trưa ngày 10 tháng 01 năm 2024, D đi lấy tiền công tại mốc 716, tổng số tiền nhận được là 4.700CNY, đổi sang tiền Việt Nam tại chợ T5 theo tỷ giá 3.200 đồng tiền Việt N2, tương đương 15.040.000 đồng (mười lăm triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng). D trả cho B số tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng), do B còn nợ D nên số tiền B thực nhận là 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng), B chia cho Tới 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) như đã thỏa thuận, còn 3.040.000 đồng (ba triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) là tiền công của D.

Trưa ngày 10 tháng 01 năm 2024, người đàn ông Trung Quốc tiếp tục liên lạc qua W và thuê D đi đón 01 (một) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép tại mốc 715, tiền công như lần đầu, D nhắc đến việc chuyến trước đưa thiếu tiền, người này nói sẽ bù lại ở chuyến này, D đồng ý. Sau đó, D trao đổi với B, B nhận lời rồi liên lạc qua W thuê T đi dò đường và cảnh giới lực lượng chức năng, tiền công là 1.000.000 đồng (một triệu đồng), T đồng ý. D tiếp tục liên hệ với T1 đi đón người từ mốc xuống bàn giao cho B đưa ra thành phố C, với giá tiền 200CNY/01 người, T1 đồng ý. D bảo T1 rủ thêm Sầm Văn N1 là em trai của T1 đi cùng, nhưng T1 không đồng ý. Chiều cùng ngày, D nhắn tin qua Wechat hỏi Sầm Văn N1, thì N1 báo đã được được Khằm Văn B1 thuê đón 02 (hai) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép. Qua trao đổi, N1 biết B sẽ đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đưa từ Tổ N ra thành phố C. Đến tối cùng ngày, người Trung Quốc thông báo cho D có thêm 02 (hai) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, có người đến đón từ mốc xuống nhưng không có xe chở ra thành phố C, D liên lạc lại với B thông báo có 03 (ba) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, địa điểm đón như lần đầu, B đồng ý. Khoảng 23 giờ cùng ngày, D nhận được thông báo nên bảo T1 đi đón người, T1 một mình đi bộ lên mốc 715 thấy có một người đàn ông Trung Quốc dẫn theo một người đàn ông Trung Quốc khác đi qua cổng ở hàng rào biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc và giao 01 (một) người cho T1, người còn lại quay về. Sau đó, T1 dẫn người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đi theo đường núi xuống đường lớn. Trên đường đi, theo yêu cầu của D, BT1 liên lạc thống nhất địa điểm giao người tại địa phận xóm R, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Đến 00 giờ 20 phút ngày 11 tháng 01 năm 2024, T1 gọi qua W báo cho B biết đã đưa người nhập cảnh trái phép đến vị trí đã hẹn. Bách sử dụng xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Pajero mang biến số 11 A-028.97 đi đón người đồng thời liên lạc cho T để T đi xe máy ra. Cùng lúc đó, Khằm Văn B2 gọi đến nói với B về việc B vào đón 01 (một) người của D thì cho gửi thêm 02 (hai) người Trung Quốc để cùng đưa ra thành phố C, tiền công là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), B đồng ý. Sau đó, Sầm Văn N1 gọi cho B hướng dẫn vị trí đón 02 (hai) người Trung Quốc, cách vị trí người Trung Quốc mà T1 đưa đến khoảng 1 km, B2 nhờ B khi nhận tiền công thì giúp nhận luôn tiền công của B2.

Về phía Khằm Văn B1, trưa ngày 10 tháng 01 năm 2024, B1 nhận được điện thoại từ một người đàn ông Trung Quốc (không rõ thông tin địa chỉ, không nhớ số điện thoại) thuê lên khu vực mốc 717 thuộc xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng đón 02 (hai) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đưa xuống đường lớn ở Tổ N rồi tìm xe để đưa ra thành phố C. Tiền công trả cho B1 là 1.000.000 đồng (một triệu đồng) còn người đưa ra thành phố C sẽ nhận được số tiền 2.000.000 đồng, B1 đồng ý. Sau đó B1 lên nhà của Sầm Văn N1 chơi, hẹn N1 chiều xuống nhà mình nói chuyện. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, người thuê báo cho B1 biết khi xong việc thì nhận tiền công từ 02 (hai) người Trung Quốc rồi gửi cho B1 một số điện thoại của người đón ở thành phố C để Biểu gửi cho người sẽ đưa người từ Tổ N ra. Khi N1 đến nhà B1, Biểu cho N1 biết việc trên, N1 đồng ý và rủ thêm Nông Văn P1, P1 đồng ý. Sau đó cả 03 (ba) cùng đi lên khu vực mốc 717 đón người, đi gần đến mốc, B1N1 tiếp tục lên còn P1 ở lại trông đường. Khi lên đến mốc vào khoảng 17 giờ, B1N1 thấy hai người đàn ông Trung Quốc đợi sẵn ở đấy. Cả hai vẫy tay ra hiệu cho hai người này đi theo mình xuống núi, khi đi qua chỗ P1 đang đợi gọi P1 đi xuống cùng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì đi đến khu vực Pài Q, xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Khi đó do không tìm được người đón người ra thành phố C, nên N1 gọi cho D xin số điện thoại của B để trao đổi thuê B đón người. Xong việc B1 về nhà, còn N1 với P1 ở lại đợi bàn giao người cho B. Khi B lái xe đến vị trí đón người Trung Quốc ở xóm R, xã T, B dừng xe thì thấy ba người đàn ông nấp ở ven đường quần áo dính đất đi lên, B xuống xe mở cửa để ba người này tự lên xe. Sau đó B đi theo hướng đường T- M, xuống N để ra thành phố C. Khi đi gần đến trung tâm xã T, B gọi cho T bảo tuyến đường đi và dặn T đi trước xe Bách khoảng 3km để cảnh giới, nếu thấy lực lượng chức năng thì báo cho B biết. Tuy nhiên, khi đi đến khu vực xóm T, xã M, huyện H, tỉnh Cao Bằng thì B bị lực lượng chức năng phát hiện, ngăn chặn.

Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ.

Tại bản Cáo trạng số: 46/CT-VKSCB-P1 ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố Vương Văn B, Vi Văn D về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Truy tố Vi Văn T về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Truy tố Sầm Văn T1, Khằm Văn B1, Nông Văn P1, Sầm Văn N1 về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị:

Xét xử các bị cáo Vương Văn B, Vi Văn D, Vi Văn T, Sầm Văn T1, Khằm Văn B1, Nông Văn P1, Sầm Văn N1 về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vương Văn B, từ 06 đến 07 năm tù;
  • + Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vi Văn D, từ 05 năm 6 tháng đến 6 năm tù;
  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Vi Văn T từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù;
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sầm Văn T1 từ 12 đến 18 tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Khằm Văn B1 từ 12 đến 18 tháng tù.
  • + + Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sầm Văn N1 từ 12 đến 18 tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Văn P1 từ 24 đến 30 tháng tù.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu phát mại điện thoại di động của các bị cáo dùng vào việc phạm tội để nộp ngân sách Nhà nước;
    • + Trả lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 11A-028.97 cho chủ sở hữu Hoàng Văn C1 do bị cáo Vương Văn B mượn để trực tiếp đón và chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép.
    • + Trả lại chiếc điện di động nhãn hiệu IPHONE mặt sau màu vàng đồng cho bị cáo Vi Văn T do bị cáo không dùng chiếc điện thoại trên vào việc thực hiện hành vi phạm tội.
  • Buộc các bị cáo D, T, B nộp lại khoản tiền thu lợi bất chính. Xác nhận bị cáo T đã nộp đủ số tiền thu lợi bất chính.
  • - Về án phí: Các bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa Nông Thị Thu T4 trình bày bản bào chữa: Nhất trí quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng về tội danh và các điều luật áp dụng, các bị cáo từ giai đoạn điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, sau khi phạm tội đều ra đầu thú, bị cáo Biểu hiện nay một mình đang nuôi con nhỏ, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử cho bị cáo B1, bị cáo T1 được hưởng án treo, bị cáo D đề nghị cho bị cáo mức thấp nhất của hình phạt do viện kiểm sát đề xuất.

Người bào chữa Nông Văn S trình bày: từ giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo B đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, bị cáo có ông nội là Vương Văn P được Nhà nước tặng thương Huân chương kháng chiến hạng ba. Khi bị cáo bị bắt quả tang thì bị cáo đã tự nguyện khai ra lần phạm tội trước nên từ đó cơ quan tố tụng mới điều tra ra được các bị cáo trong vụ án này, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết điểm r là tự thú cho bị cáo B, việc áp dụng bị cáo B tái phạm là chưa chính xác, vì lúc phạm tội trong vụ án bị xét xử năm 2023 bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Hình sự thì trong vụ án này bị cáo được coi là không có án tích. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, điểm r khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử cho bị cáo mức thấp nhất do Viện kiểm sát đề nghị.

Người bào chữa Hoàng Thị Diệp H2 trình bày: Nhất trí quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng về tội danh và các điều luật áp dụng, các bị cáo từ giai đoạn điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, bị cáo T tham gia với vai trò cảnh giới, bị cáo T đã tác động gia đình nộp lại số tiền thu lợi bất chính, sau khi bị cáo B bị bắt thì cả 3 bị cáo đều ra đầu thú. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, đề nghị xử phạt các bị cáo mức án thấp nhất do viện kiểm sát đề nghị. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến đối đáp về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo Vương Văn B: Tại bản án số 18/2023/HS-ST ngày 08/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 04 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới”. Tuy nhiên thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Hình sự thì trong vụ án này bị cáo được coi là không có án tích. Do đó Viện kiểm sát không áp dụng tình tiết tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo B.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho các bị cáo ở mức thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và có đủ căn cứ kết luận như sau:

    Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại khu vực xóm T, xã M, huyện H, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Công an huyện H bắt quả tang Vương Văn B đang điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 11 A-028.97 chở 03 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Quá trình điều tra xác định được 01 trong số 03 người Trung Quốc là do Vi Văn D thuê Sầm Văn T1 lên mốc 715 đón rồi đưa xuống Tổ N, H với giá 200CNY/01 người. Sau đó, D thuê B đón người và đưa ra thành phố C, với giá 2.000.000 đồng/01 người. 02 người Trung Quốc còn lại do Khằm Văn B1 thuê Sầm Văn N1Nông Văn P1 cùng lên mốc 717 đón rồi đưa đến Tổ N. Do không tìm được người đưa ra thành phố C, thông qua D, B1N1 thuê B chở 02 người nhập cảnh trái phép với giá 2.000.000 đồng, B đã thuê Vi Văn T đi trước để cảnh giới lực lượng chức năng, với tiền công 1.000.000 đồng, tuy nhiên T không biết số lượng người nhập cảnh trái phép. Sau khi B bị bắt quả tang, D, T1, T, N1, B1, P1 đã đến cơ quan điều tra đầu thú. Do chưa thực hiện trót lọt nên không ai nhận được tiền công. Ngoài ra, trước đó ngày 09 tháng 01 năm 2024, Vi Văn D, Vương Văn B, Vi Văn T còn thực hiện đón và đưa 06 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, B được D trả cho 10.000.000đ tiền công (tuy nhiên Bách chỉ được nhận được tiền công thục tế 5.000.000 đồng, còn 5.000.000đ tiền công là do D gạt vào số tiền mà trước đó B còn nợ D 5.000.000đ). Tại phiên toà bị cáo B tự nguyện chịu số tiền thu lợi bất chính là 10.000.000 đồng. Tới nhận được tiền công là 2.000.000 đồng, lần này T cũng chỉ là người đi trông đường, T không biết số lượng người nhập cảnh trái phép, còn D được số tiền 3.040.000 đồng.

    Như vậy, bị cáo Vương Văn B đã 02 lần thực hiện hành vi đưa 09 người nhập cảnh trái phép, bị cáo Vi Văn D đã 02 lần thực hiện hành vi đưa 07 người nhập cảnh trái phép, nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 348 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo Vi Văn T đã 02 lần thực hiện hành vi cảnh giới cho bị cáo B thực hiện hành vi đưa người nhập cảnh trái phép nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 348 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo Sầm Văn T1 thực hiện hành vi đón 01 người nhập cảnh trái phép, bị cáo Khằm Văn B1, Sầm Văn N1, Nông Văn P1 thực hiện hành vi đón 02 người nhập cảnh trái phép nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự năm 2015.

  3. Vai trò của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này bị cáo Vi Văn D giữ vai trò chính, thuê các bị cáo khác thực hiện hành vi đưa đón người nhập cảnh trái phép. Bị cáo Vương Văn B, Vi Văn D, Vi Văn T, Sầm Văn T1, Khằm Văn B1, Nông Văn P1 thực hiện hành vi đón người nhập cảnh để nhận tiền công. Do vậy khi quyết định hình phạt cần căn cứ vào vai trò của các bị cáo để lượng hình cho phù hợp.
  4. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    • - Về nhân thân: Bị cáo Vi Văn D, Vi Văn T, Sầm Văn T1, Sầm Văn N1, Khằm Văn B1 có nhân thân tốt. Đối với bị cáo Vương Văn B tại bản Bản án số 18/2023/HS-ST ngày 08/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 04 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới”. Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Hình sự thì trong vụ án này bị cáo đã được coi là không có án tích, nên bị cáo không bị chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nông Văn P1 là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
    • Các bị cáo Vi Văn D, Vi Văn T, Sầm Văn T1, Khằm Văn B1, Sầm Văn N1, Nông Văn P1 ra đầu thú hành vi phạm tội, bị cáo T đã tác động gia đình nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.000.000đ, bị cáo Vương Văn B có ông nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  5. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
  6. Về xử lý vật chứng: Tịch thu phát mại điện thoại di động của các bị cáo là phương tiện phạm tội để nộp Ngân sách nhà nước; Trả lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 11A-028.97 cho ông Hoàng Văn C1 là chủ sở hữu của chiếc xe và chiếc điện thoại di động của bị cáo T không liên quan đến hành vi phạm tội.
  7. Truy thu số tiền do các bị cáo phạm tội mà có để nộp ngân sách nhà nước: Truy thu đối với bị cáo Vương Văn B số tiền 10.000.000 đồng; Truy thu đối với bị cáo Vi Văn D số tiền 3.040.000 triệu đồng. Truy thu đối với bị cáo Vi Văn T số tiền 2.000.000đ. Xác nhận bị cáo T đã nộp đủ số tiền thu lợi bất chính 2.000.000đ theo biên lai số 0001218 ngày 24.6.2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
  8. Các nhận định khác:

    Đối với người đàn ông thuê Vi Văn D, người đàn ông thuê Khằm Văn B1 và người đón 06 (sáu) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ mốc biên giới, do không có thêm thông tin, nên Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch để điều tra mở rộng vụ án.

    Đối với và tài khoản Zalo “Kiều Nhật”, hiện nay chưa xác định được thông tin số thuê bao đăng ký tài khoản, Cơ quan điều tra vẫn tiếp tục điều tra, xác minh thêm. Nếu đủ căn cứ sẽ xử lý bằng một vụ án khác.

    Đối với những người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh C đã ra quyết định xử phạt hành chính với hình thức phạt tiền và trục xuất về nước theo quy định.

  9. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng về tội danh, về mức hình phạt, về tình tiết không áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo Vương Văn B, về hướng xử lý vật chứng và án phí đối với các bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận;

    Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Vương Văn B đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm r là không có căn cứ chấp nhận, nội dụng báo chữa cho bị cáo được áp dụng Điều 107 Bộ luật Hình sự, không áp dụng tái phạm đối với bị cáo B là có căn cứ nên cần chấp nhận. Đối với nội dung báo chữa cho bị cáo B1, bị cáo T1 được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự không có căn cứ để chấp nhận. Các nội dung bào chữa khác có căn cứ nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

  10. Về án phí: Các bị cáo thuộc trường hợp miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

  1. Về tội danh: Các bị cáo Vương Văn B, Vi Văn D, Vi Văn T, Sầm Văn T1, Khằm Văn B1, Nông Văn P1, Sầm Văn N1 phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
  2. Về hình phạt và Điều luật áp dụng:
    • + Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vương Văn B 06 năm tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 11/01/2024.
    • + Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vi Văn D 05 năm 6 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 18/01/2024.
    • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vi Văn T 05 năm tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 18/01/2024.
    • + Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sầm Văn T1 12 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 18/01/2024.
    • + Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Khằm Văn B1 16 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
    • + Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sầm Văn N1 16 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
    • + Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Văn P1 24 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu phát mại lấy tiền nộp ngân sách Nhà nước:

    • + 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “điện thoại di động OPPO A53 của Vương Văn B”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 04 hình dấu tròn mực đỏ của cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C.
    • + 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE của Vi Văn D”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 04 hình dấu tròn mực đỏ của cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C.
    • + 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “điện thoại di động REALME mặt sau màu vàng xanh của Vi Văn T”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 04 hình dấu tròn mực đỏ của cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C.

    Trả lại cho bị cáo Vi Văn T 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE mặt sau màu vàng đồng của Vi Văn T”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 04 hình dấu tròn mực đỏ của cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C

    Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan cho ông Hoàng Văn C1:

    01 xe ô tô biển kiểm soát 11A-028.97 loại xe ô tô con, nhãn hiệu: MITSUBISHI, số loại: PAJERO V6, màu sơn: Xám (bạc), dung tích xi lanh: 2972cm³, số máy: 6G72MK6914, số khung: RLA00V33VY1000068, số chỗ ngồi: 07, năm sản xuất: 2000, xe đã qua sử dụng, vỏ xe có nhiều vết xước, bong tróc sơn đã cũ, kèm theo 01 chìa khóa xe.

    (Xác nhận các vật chứng trên được Cơ quan ANĐT Công an tỉnh C chuyển giao cho Cục THADS tỉnh C theo biên bản giao nhận vật chứng số 101 ngày 10/5/2024).

    • - Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 10.000.000đ do phạm tội mà có đối với bị cáo Vương Văn B.
    • - Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 3.040.000đ do phạm tội mà có đối với bị cáo Vi Văn D.
    • - Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000đ do phạm tội mà có đối với bị cáo Vi Văn T. Xác nhận bị cáo T đã nộp đủ số tiền 2.000.000đ theo biên lai số 0001218 ngày 24.6.2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
  4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng;
  • - Cục THA Dân sự tỉnh Cao Bằng;
  • - CQ ANĐT- CA tỉnh Cao Bằng;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh CB;
  • - Phòng PC10 CA tỉnh CB;
  • - Các bị cáo, NTGTT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tòa Hình sự, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại khu vực xóm T, xã M, huyện H, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Công an huyện H bắt quả tang Vương Văn B đang điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 11 A-028.97 chở 03 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Quá trình điều tra xác định được 01 trong số 03 người Trung Quốc là do Vi Văn D thuê Sầm Văn T1 lên mốc 715 đón rồi đưa xuống Tổ N, H với giá 200CNY/01 người. Sau đó, D thuê B đón người và đưa ra thành phố C, với giá 2.000.000 đồng/01 người. 02 người Trung Quốc còn lại do Khằm Văn B1 thuê Sầm Văn N1 và Nông Văn P1 cùng lên mốc 717 đón rồi đưa đến Tổ N. Do không tìm được người đưa ra thành phố C, thông qua D, B1 và N1 thuê B chở 02 người nhập cảnh trái phép với giá 2.000.000 đồng, B đã thuê Vi Văn T đi trưóc để cảnh giới lực lượng chức năng, với tiền công 1.000.000 đồng, tuy nhiên T không biết số lượng người nhập cảnh trái phép. Sau khi B bị bắt quả tang, D, T1, T, N1, B1, P1 đã đến cơ quan điều tra đầu thú. Do chưa thực hiện trót lọt nên không ai nhận được tiền công. Ngoài ra, trước đó ngày 09 tháng 01 năm 2024, Vi Văn D, Vương Văn B, Vi Văn T còn thực hiện đón và đưa 06 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, B được D trả cho 10.000.000đ tiền công (tuy nhiên Bách chỉ được nhận được tiền công thục tế 5.000.000 đồng, còn 5.000.000đ tiền công là do D gạt vào số tiền mà trước đó B còn nợ D 5.000.000đ). Tại phiên toà bị cáo B tự nguyện chịu số tiền thu lợi bất chính là 10.000.000 đồng. Tới nhận được tiền công là 2.000.000 đồng, lần này T cũng chỉ là người đi trông đường, T không biết số lượng người nhập cảnh trái phép, còn D được số tiền 3.040.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger