TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 83/2024/HS-ST Ngày 23 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Thành Lil;
Bà Lương Thị Kim Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoài Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hoài T (tên khác L), sinh ngày 01/9/1990 tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Quách Thị Xuân H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã T (có mặt).
2. Ngô Trung K (tên khác Tô N1), sinh ngày 14/9/1999 tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Hữu Đ và bà Đỗ Thị T1; vợ Nguyễn Thị Khả D, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/6/2024 cho đến nay. (có mặt).
- Bị hại: Nguyễn Phú T2, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Đặng Thị Kiều H1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
- Nguyễn Thanh Ú, sinh năm 1997; Nơi cư trú :Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
- Nguyễn Thái C, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
- Đinh Đình G, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Nguyễn Khoa N2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Người làm chứng: Ma Ri G1, Huỳnh Thị Ngọc T3. (đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/02/2024, Nguyễn Hoài T đến khu vực ấp H, xã C chơi đánh bạc cùng với Nguyễn Thanh Ú, Nguyễn Thái C và một số người khác (không xác định nhân thân, lai lịch). Do thua bạc, T nghi ngờ Ú, C gian lận, phát sinh mâu thuẫn, T dùng tay đánh vào tay trái, hông trái của Ú (không có thương tích), được can ngăn. Úy, C lên xe ô tô 66A-119.06 (do Nguyễn Phú T2 điều khiển) đi về thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Riêng T điều khiển xe mô tô đuổi theo xe của Ú; Ngô Trung K nhờ Nguyễn Khoa N2 điều khiển xe đi theo T (N2 không biết mục đích, không bàn bạc trước với K). Khi đến khu vực ấp H, xã C, thị xã T, thấy nhóm của Ú dừng tại tiệm tạp hóa, T, dừng xe lượm 01 cục đá (trọng lượng 02 kg), đi đến trước đầu xe, ném trúng cửa kính bên trái ghế tài, làm nứt kính (chưa bể), thấy T ném đá, K tiếp tục nhặt cục đá ném vào kính xe (vị trí ban đầu T đã ném), làm kính xe bị vỡ hoàn toàn. Sau đó, T, K dùng tay, chân đấm, đá vào kính chắn gió, cửa xe ô tô; Úy khóa cửa xe, điều khiển xe đến Công an xã C trình báo, trên đường đi, va chạm giao thông với MARIGIAH đang điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường, làm phần dè chắn bùn phía trước, bên trái xe ô tô bị biến dạng. Riêng T2, C, hoảng sợ, nên bỏ chạy vào nhà dân, sau đó, có 01 người nam (bên nhóm của T, không xác định nhân thân, lai lịch) chở C đến khu vực ấp H, xã C để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn. Tiếp nhận sự việc, lực lượng Công an xã C mời các đối tượng làm việc, T, K thừa nhận hành vi phạm tội.
Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã T đã khởi tố bắt tạm giam Nguyễn Hoài T. Riêng, K được áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
* Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 768 ngày 19/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận:
- 01 kính chắn gió cửa trước bên trái xe ô tô biển số 66A-119.06, bị vỡ hoàn toàn, trị giá 2.500.000 đồng.
- Phần dè trước bên trái bị biến dạng có kích thước 10cm, trị giá 2.800.000 đồng.
* Căn cứ Kết luận giám định số 767 ngày 09/7/2024 của Phòng K1-Công an tỉnh A, kết luận:
- Trích xuất 28 ảnh từ dữ liệu 03 tập tin Video được lưu trữ trong USB (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã T gửi giám định, chi tiết thể hiện trong Phụ lục kèm theo.
- Kèm theo kết luận giám định: 01 phụ lục gồm 11 trang A4.
Lời khai các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày như nội dung vụ án, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập, thể hiện trong hồ sơ vụ án.
Bị hại đã nhận tiền bồi thường 5.000.000 đồng từ các bị cáo, không yêu cầu bồi thường thêm, xin giảm nhẹ hình phạt.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- 01 xe ô tô biển số 66A-119.06 loại xe Mitsubishi Xpander 07 chỗ ngồi (đã trả cho chủ sở hữu).
- 01 cục đá có trọng lượng 02kg.
Tại Cáo trạng số: 59/CT-VKSTC ngày 27 tháng 8 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã truy tố Nguyễn Hoài T, Ngô Trung K về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hoài T, Ngô Trung K khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.
Về hình phạt yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, ông T2 đã nhận đủ tiền bồi thường thiệt hại, không yêu cầu bồi thường gì khác.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài T từ 09 tháng đến 01 năm tù. Xử phạt bị cáo Ngô Trung K từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Các bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt, dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hoài T, Ngô Trung K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, không có ý kiến về kết luận định giá tài sản. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Do mâu thuẫn trong lúc tham gia lắc tài xỉu nên khoảng 12 giờ ngày 24/02/2024, Nguyễn Hoài T, Ngô Trung K đã có hành vi dùng tay, chân đấm, đá và dùng cục đá trọng lượng 02 kg ném vào kính chắn gió, cửa xe ô tô BKS 66A-119.06 loại xe Mitsubishi Xpander 07 chỗ ngồi của anh Nguyễn Phú T2 làm kính xe bị vỡ gây thiệt hại 2.500.000 đồng.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, hủy hoại tài sản của người khác trái pháp luật, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Do đó, cần xử lý nghiêm minh với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Hoài T, Ngô Trung K đã phạm tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thuộc tội phạm ít nghiêm trọng, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi hủy hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nóng giận của bản thân. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Vụ án có đồng phạm nhưng với tính chất giản đơn, trong đó bị cáo Nguyễn Hoài T là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi hủy hoại tài sản. Bị cáo Ngô Trung K là người giúp sức tích cực, trực tiếp thực hiện hành vi hủy hoại tài sản. Do đó, bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn bị cáo K trong vụ án.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã khắc phục toàn bộ hậu quả; bị cáo T, K có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên truy tố các bị cáo phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo điểm, khoản, điều luật, đồng thời đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo như trên là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét khi lượng hình.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có nghề nghiệp nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Xử lý vật chứng: Xe ô tô biển số 66A-119.06 loại xe Mitsubishi Xpander 07 chỗ ngồi đã trả cho chủ sở hữu nên không xem xét.
Đối với 01 (một) cục đá có trọng lượng 02kg là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Về các vấn đề khác:
Đối với hành vi tham gia đánh bạc trái phép bằng hình thức lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền của Nguyễn Hoài T, Đinh Đình G, Nguyễn Thanh Ú, Nguyễn Thái C, nhưng chưa có cơ sở xác định số tiền tham gia đánh bạc là bao nhiêu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc và Nguyễn Thanh Ú bị T dùng tay đánh nhưng không có thương tích, Ú không yêu cầu xử lý hình sự Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự là phù hợp nên không xem xét.
Đối với Nguyễn Khoa N2 điều khiển xe mô tô chở Ngô Trung K đi theo T, nhưng N2 không biết rõ mục đích, không thỏa thuận trước và không tham gia đập phá tài sản nên chưa đủ căn cứ truy cứu N2 với vai trò đồng phạm trong vụ án.
Đối với người nam thành niên (chưa rõ họ tên, địa chỉ), khi phát hiện Nguyễn Thái C, thì kêu C lên xe chở về để giải quyết mâu thuẫn không có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ép buộc C lên xe mô tô, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự là phù hợp nên không xem xét.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoài T, Ngô Trung K phạm tội “Hủy hoại tài sản".
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Hoài T, Ngô Trung K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoài T, Ngô Trung K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 23/9/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 19/6/2024).
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Ngô Trung K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cục đá có trọng lượng 02kg.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu)
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Huỳnh Minh Nhựt |
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về hình sự (hủy hoại tài sản)
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Hủy hoại tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BỊ CÁO NGUYỄN HOÀI T VÀ LÊ TRUNG K PHẠM TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN
