Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HSST

Ngày: 23-9-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Ông Tăng Tài Thủ - Chức vụ: Nguyên Ủy viên thường trực - Ủy BanMặt trận quận Thốt Nốt.

2. Bà Thái Ánh Trinh - Chức vụ: Nguyên Giáoviên Trường Trung học phổ thông Thốt Nốt.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Toà án nhân dân quận Thốt Nốt - Thànhphố Cần Thơ.

Đại diện Việnkiểm sát nhân dân quận T - ThànhCần Thơ tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Thùy T - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo quyếtđưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh ngày: 01/12/2006 tại huyện C, thành phố Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị Mỹ N1, sinh năm 1987; Tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấmđi khỏi nơi cư trú, từ ngày 10/6/2024 cho đến ngày 21/8/2024 tại xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; Bị cáo tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa)

- Đại diện gia đình bị cáo: Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, là bà ngoại của bị cáo N. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Trợ giúp viên pháp lý ông Đặng Trúc P, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố C. Có mặt.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Văn Trường G, sinh năm 1983. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 03/12/2022, sau khi nhậu cùng với Nguyễn Văn Trường G, Nguyễn Văn K, Trần Văn G1 và một số người khác (chưa rõ họ tên, địa chỉ) tại quán T1 thuộc xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, Nguyễn Văn N theo xe Nguyễn Văn Trường G chở về ngủ lại nhà của G tại khu vực T, phường T, quận T. Khi về đến nhà G đậu xe môtô biển số 65F1-743.37 vừa chở N ở phòng khách, sau đó cả hai đi ngủ. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, N thức dậy nhìn thấy G còn ngủ nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của G. Nhớ quan sát và lấy trộm trong ví số tiền 3.000.000 đồng, một môtô biển số 65F1-743.37 của Nguyễn Văn Trường G rồi điều khiển đến ThànhHồ Chí Minh. Khi đến ThànhHồ Chí M, N kiểm tra cốp xe mô tô thì phát hiện trong cốp xe có 01 giấy đăng ký xe 65F1-743.37 (bản phôtô), 01 giấy phép lái xe, 01 căn cước công dân và 01 giấy bảo hiểm xe 65F1-743.37 mang tên Nguyễn Văn Trường G. Do cần tiêu chi tiêu nên N mang xe môtô biển số 65F1-743.37 đến tiệm cầm đồ Không Đồnggần chợ C1, đường T, xã X, huyện H, Thànhphố H cầm với số tiền 7.000.000 đồng.

Sáng ngày 02/12/2022, khi G thức dậy thì phát hiện bị mất trộm tài sản gồm: 01 xe môtô biển số 65F1-743.37, tiền Việt Nam 3.000.000 đồng; 01 giấy đăng ký xe 65F1-743.37 (bản phôtô), 01 giấy phép lái xe, 01 căn cước công dân và 01 giấy bảo hiểm xe 65F1-743.37 và 01 vòng tỳ hưu mạ vàng 24k nên trình báo Công an phường T.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơchức năng tiến hành truy xuất dữ liệu camera tại khu vực T, phường T, xác định người lấy trộm tài sản của Nguyễn Văn Trường GNguyễn Văn N và tiến hành mời Nguyễn Văn N làm việc nhưng Nhớ không có mặt tại địa phương. Đến ngày 20/5/2024, Cơ quan Cảnhsát điều tra mời Nguyễn Văn N làm việc, N thừa nhận hành vi lấy trộm tài sản của Nguyễn Văn Trường G, trừ 01 (một) vòng tay tỳ hưu mạ vàng 24K, Nguyễn Văn N không thừa nhận trộm.

Tại Bảnluận định giá tài sản số 59/BKL-HĐĐGTS ngày 26 tháng 12 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tốtụng Hình sự quận T, thành phố Cần Thơ, kết luận (Bút lục 16 – 17):

- 01 (một) xe môtô biển số 65F1-743.37 nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu xanh đen, sản xuất năm 2022, đã qua sử dụng, với giá trị là: 32.000.000 đồng.

- 01 (một) vòng tay tỳ hưu mạ vàng 24K, đã qua sử dụng, có giá trị 1.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn Trường G đều không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với kết luận định giá tài sản nêu trên.

Về tang vật: không thu giữ.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Trường G yêu cầu Nguyễn Văn N bồi thường số tiền lấy trộm 3.000.000 đồng và trị giá xe mô tô với số tiền 42.000.000 đồng. Tổng cộng G yêu cầu N bồi thường số tiền 45.000.000 đồng, N đồng ý nhưng đến nay chưa bồi thường.

Đối với 01 (một) vòng tay tỳ hưu mạ vàng 24K, 01 giấy đăng ký xe 65F1-743.37 (bản phôtô), 01 giấy phép lái xe, 01 căn cước công dân và 01 giấybảo hiểm xe 65F1-743.37 Giang không yêu cầu giải quyết.

Tại Cáo trạng số 83/CT-VKSTN ngày 27 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt truy tố Nguyễn Văn Nhớ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hìnhsự).

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, thống nhất nội dung Cáotrạng Viện kiểm sát truy tố.

Bị hại vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày như trong quá trình điều tra.

Về trách nhiệm dân sự, bị hại xác định chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá xe môtô biển số 65F1-743.37 với số tiền 32.000.000 đồng và số tiền bị mất trộm 3.000.000 đồng. Tổng cộng, yêu cầu bị cáo bồi thường là 35.000.000 đồng, bị cáo cũng thống nhất với ý kiến và yêu cầu của bị hại. Đồng thời, bị cáo, bị hại yêu cầu Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận về dân sự giữa bị hại và bị cáo.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời phát biểu quan điểm luận tội, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N mức án từ09 tháng đến 01 năm tù.

Hình phạt bổ sung: do bị cáo chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Công nhận bị cáo và bị hại thỏa thuận bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại tổng số tiền là 35.000.000 đồng.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Trợ giúp viên bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến bào chữa: Thống nhất tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân quận T truy tố đối với bị cáo. Trợ giúp viên cũng thống nhất với các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát

đề nghị. Trên cơ sở đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hình phạt dành cho bị cáo theo mức thấp nhất đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo thống nhất lời bào chữa của Trợ giúp viên, bị cáo không tham gia tranh luận, đồng thời bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại không tham gia tranh luận, đồng thời xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung: Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như: các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của người bị hại, kết luận định giá tài sản... Như vậy, có cơ sở để xác định vào khoảng 04 giờ ngày 03/12/2022, bị cáo Nguyễn Văn N đã có hành vi lợi dụng lúc bị hại Nguyễn Văn Trường G đang ngủ, bị cáo đã lén lút lấy trộm của bị hại G số tiền 3.000.000 đồng và một xe môtô biển số 65F1-743.37 nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu xanh đen với giá trị qua định giá là 32.000.000 đồng, sau đó mang đi cầm lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng trị giá tài sản bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại được xác định là 35.000.000 đồng. Hành vi sai trái mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hìnhsự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Xét, bị cáo là một thanh niên với tuổi đời còn rất trẻ, nhưng không chịu khó rèn luyện đức tính tốt để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, lại sớm tiêm nhiễm thói hư tật xấu, mong muốn có tiền để tiêu xài mà không phải tốn công sức lao động chính đáng nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác để phục vụ nhu cầu tiêu xài của bản thân. Hành vi bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, đồng thời còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo còn bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho công tác điều tra, cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật. Do vậy, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời

sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo suy ngẫm lại chính mình đồng thời có ý thức chấp hành pháp luật được tốt hơn.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đến thái độ khai báo của bị cáo trong điều tra và tại phiên tòa có thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa phía bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hìnhsự. Đặc biệt, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, không biết chữ nên năng lực hành vi và nhận thức về pháp luật còn hạn chế để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Các vấn đề khác:

Đối với tiệm cầm đồ có tên Không Đồnggần chợ C1, đường T, xã X, huyện H, Thànhphố H. Qua xác minh không có tiệm cầm đồ như địa chỉ trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không tiến hành làm việc được nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Đối với 01 (một) vòng tay tỳ hưu mạ vàng 24K, Nguyễn Văn N không thừa nhận trộm, ngoài lời khai của Nguyễn Văn Trường G thì không còn chứng cứ nào khác xác định N trộm và bị hại cũng xác định không yêu cầu nên không đề cập xử lý là phù hợp.

Ngoài ra, còn những giấy tờ liên quan không thu hồi được và G cũng không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và Trợ giúp viên pháp lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Hình phạt bổ sung: không áp dụng.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Văn N và bị hại Nguyễn Văn Trường G, bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại G số tiền là 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng).

Về thời gian và phương thức thanh toán được giải quyết tại C cục Thi hành án dân sự quận T theo thẩm quyền.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyếtsố 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

- Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thián dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thián dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại ĐiềuLuật Thihành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND TP.Cần Thơ;
  • - VKSND quận Thốt Nốt;
  • - Công an quận Thốt Nốt;
  • - Chi cục THADS quận Thốt Nốt;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Mộng Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HSST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 83/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger