Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯỚNG HÓA

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày 23-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Lan và bà Dương Thị Mai Hương

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Đức Thiện - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Chí Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST – HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Hồ Văn D, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Vân Kiều; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn B và bà Hồ Thị H (đều đã chết); Có vợ là Hồ Thị R, sinh năm 1980 và có 05 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn D: Ông Trần Đại N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q, có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Ngọc D1 - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã H (Theo giấy ủy quyền số 01/GUQ-UBND ngày 16/4/2024), có mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác:

+ Người phiên dịch: Ông Hồ Quốc P; Địa chỉ: K, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 16/3/2024, Hồ Văn D đến khu vực rừng tự nhiên thuộc lô 7A, khoảnh 1 tiểu khu F xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị chọn địa điểm để phát rừng làm rẫy. Sau khi chọn được địa điểm, D sử 01 cây rựa (có đặc điểm: dài 73cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 32cm, nơi rộng nhất 05cm; cán làm bằng gỗ dài 41cm, đường kính 03cm) và 01 cái cuốc chim (có đặc điểm: dài 63cm, rộng 19,5cm; cán làm bằng gỗ dài 63cm, đường kính 03cm; phần lưỡi bằng kim loại gồm có 02 đầu) để chặt hạ cây rừng. Dục một mình chặt hạ cây rừng trong khoảng thời gian 20 ngày với diện tích rừng bị phá 8.500m², số cây rừng bị chặt hạ có đường kính từ 10cm đến 60cm là 154 cây

Ngày 03/4/2024, Tổ bảo vệ rừng xã H tổ chức tuần tra, kiểm tra bảo vệ rừng đối với diện tích rừng tự nhiên chưa giao, do Ủy ban nhân dân xã H quản lý phát hiện diện tích rừng tự nhiên bị xâm hại và báo cáo cơ quan chức năng.

Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp số 02-2024/KL-GĐCN ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Giám định viên Phan Quốc T thuộc Chi cục kiểm lâm tỉnh Q kết luận: - Vị trí: lô 7A, khoảnh 1, tiểu khu F, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. - Diện tích: 0,85 ha (8.500m²).

- Chủ quản lý: UBND xã H.

- Phân loại rừng theo mục đích sử dụng: Rừng sản xuất.

- Trữ lượng của diện tích rừng bị phá: 63,981m³

Kết luận định giá tài sản số 31/KL-ĐGTS ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: Tại vị trí rừng bị phá: Thuộc lô 7A, khoảnh 1, tiểu khu F, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Trữ lượng của diện tích rừng bị phá tại thời điểm ngày 16/4/2024: 63,981m³. Giá trị thiệt hại đối với diện tích rừng tự nhiên bị phá tại thời điểm ngày 16/4/2024 được định giá 419.968.242 đồng

Quá trình điều tra đã thu giữ vật chứng:

- Thu giữ của Hồ Văn D:

+ 01 cây rựa có đặc điểm: dài 73cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 32cm, nơi rộng nhất 05cm, nơi hẹp nhất 03cm; cán làm bằng gỗ dài 41cm, đường kính 03cm.

+ 01 cái cuốc chim hai đầu có đặc điểm: dài 63cm, rộng 19,5cm; cán làm bằng gỗ dài 63cm, đường kính 03cm; phần lưỡi bằng kim loại gồm có 02 đầu: một đầu dài 13cm, nơi rộng nhất 08cm, nơi hẹp nhất 05cm, nơi dày nhất 01cm; đầu còn lại có dấu vết gãy vỡ chỉ còn lại một phần có kích thước dài 01cm, nơi rộng nhất 05cm, nơi dày nhất 05mm.

+ 01 mảnh kim loại (dạng lưỡi rìu) có đặc điểm: dài 13cm, nơi rộng nhất 08cm, nơi hẹp nhất 05cm, nơi dày nhất 05mm.

- Đối với số cây gỗ bị chặt hạ trong vụ án, đã bàn giao cho Ủy ban nhân dân xã H quản lý, bảo vệ tại hiện trường theo biên bản bàn giao lập ngày 15/5/2024 (Được mô tả trong biểu tổng hợp Khám nghiệm hiện trường khu vực rừng tự nhiên bị phá thuộc lô 7A, khoảnh 1, tiểu khu F, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị kèm theo biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 15/5/2024).

Tại bản Cáo trạng số: 79/CT – VKSHH ngày 26/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Hồ Văn D về tội “Hủy hoại rừng” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn D phạm tội “Huỷ hoại rừng”.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 243; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Văn D từ 24 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 cây rựa dài 73cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 32cm, nơi rộng nhất 05cm, nơi hẹp nhất 03cm; cán làm bằng gỗ dài 41cm, đường kính 03cm; 01 cái cuốc chim hai đầu có đặc điểm: dài 63cm, rộng 19,5cm; cán làm bằng gỗ dài 63cm, đường kính 03cm; phần lưỡi bằng kim loại gồm có 02 đầu: một đầu dài 13cm, nơi rộng nhất 08cm, nơi hẹp nhất 05cm, nơi dày nhất 01cm; đầu còn lại có dấu vết gãy vỡ chỉ còn lại một phần có kích thước dài 01cm, nơi rộng nhất 05cm, nơi dày nhất 05mm; 01 mảnh kim loại (dạng lưỡi rìu) có đặc điểm: dài 13cm, nơi rộng nhất 08cm, nơi hẹp nhất 05cm, nơi dày nhất 05mm của Hồ Văn D.

Vật chứng trên đang được Chi cục thi hành án dân sự huyện Hướng Hoá quản lý

Đối với số cây gộc bị cưa hạ trong vụ án, hiện UBND xã H đang bảo quản, quản lý. Tại Biên bản bàn giao ngày 15/5/2024: Số cây gỗ bị chặt hạ còn nguyên thân cây tại hiện trường; do vị trí địa hình rất phức tạp; điều kiện giao thông khó khăn trong việc vận chuyển số cây gỗ nên tiếp tục giao cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị tiếp tục quản lý, bảo vệ.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự và các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật dân sự buộc bị cáo Hồ Văn D phải bồi thường cho UBND xã H số tiền 419.968.242 đồng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn D: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 243; điểm s, m khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Văn D 18 tháng đến 24 tháng tù cho hưởng án treo;

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo mong muốn Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình quá khó khăn; mục đích bị cáo khai hoang để lấy đất trồng lúa nuôi gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa; bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi bị truy tố: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử khẳng định:

Trong khoảng thời gian 20 ngày, kể từ ngày 16/3/2024 Hồ Văn D đã có hành vi dùng rựa và cuốc chim hai đầu huỷ hoại 8.500 m² rừng sản xuất tại khu rừng thuộc lô G, khoảnh 1, tiểu khu F, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Theo Bản Kết luận định giá tài sản số 31/KL-ĐGTS ngày 08/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: Tại vị trí rừng bị phá: Thuộc lô 7A, khoảnh 1, tiểu khu F, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Trữ lượng của diện tích rừng bị phá tại thời điểm ngày 16/4/2024: 63,981m³. Giá trị thiệt hại đối với diện tích rừng tự nhiên bị phá tại thời điểm ngày 16/4/2024 được định giá 419.968.242 đồng. Vì vậy, hành vi của bị cáo Hồ Văn D đã phạm vào tội “Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự.

[3]. Xét tính chất, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm và hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo “thành khẩn khai báo” về hành vi của mình; gia đình thuộc hộ nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý nhà nước, bảo vệ môi trường, chế độ bảo vệ rừng và phát triển rừng. Vì vậy, cần xử lý nghiêm theo pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; bản thân là lao động chính trong gia đình nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà chỉ cần áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo củng đủ giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trứ” nhưng bị xử phạt tù cho hưởng án treo. Nên cần áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự để huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với các bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Ủy ban nhân dân xã H yêu cầu bị cáo Hồ Văn D bồi thường tổng giá trị tài sản thiệt hại toàn bộ số cây rừng bị chặt phá. Theo kết luận định giá tài sản số 31/KL-ĐGTS ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: Tại vị trí rừng bị phá: Thuộc lô 7A, khoảnh 1, tiểu khu F, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Trữ lượng của diện tích rừng bị phá tại thời điểm ngày 16/4/2024: 63,981m³. Giá trị thiệt hại đối với diện tích rừng tự nhiên bị phá tại thời điểm ngày 16/4/2024 được định giá 419.968.242 đồng

Hội đồng xét xử thấy yêu cầu của UBND xã H là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 của Bộ luật dân sự buộc bị cáo Hồ Văn D phải bồi thường cho UBND xã H số tiền 419.968.242 đồng, để nộp vào ngân sách nhà nước.

[5]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 cây rựa có chiều dài 73cm, phần lưỡi bằng kim loại có chiều dài 32cm, có điểm rộng nhất của lưỡi rựa 05cm, điểm hẹp nhất 03cm; cán làm bằng gỗ có chiều dài 41cm, cán rựa được bo tròn có đường kính 03cm; 01 cái cuốc chim hai đầu, đã qua sử dụng, có kích thước: dài 63cm, rộng 19,5cm, được chia làm hai phần: Phần cán được làm bằng gỗ, hình trụ tròn có chiều dài tổng thể là 63cm, đường kính 03cm; phần lưỡi được làm bằng kim loại gồm hai đầu, trong đó: Một đầu của phần lưỡi dài 13cm, nơi rộng nhất 08cm, nơi hẹp nhất 05cm, nơi dày nhất 01cm; đầu còn lại có dấu vết gãy vỡ kim loại, chỉ còn lại một phần kim loại, có kích thước: dài 01cm, nơi rộng nhất 05cm, nơi dày nhất 05mm và 01 mảnh kim loại (dạng hình lưỡi rìu, đã qua sử dụng) có chiều dài tổng thể 13cm, nơi rộng nhất 08cm, nơi hẹp nhất 05cm, nơi dày nhất 05mm của Hồ Văn D làm công cụ, phương tiện phạm tội và vật không có giá trị nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.

Vật chứng trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý và có đặc điểm được mô tả theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/7/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa.

- Đối với số cây gộc bị cưa hạ trong vụ án, hiện UBND xã H đang bảo quản, quản lý. Tại Biên bản bàn giao ngày 15/5/2024: Số cây gỗ bị chặt hạ còn nguyên thân cây tại hiện trường; do vị trí địa hình rất phức tạp; điều kiện giao thông khó khăn trong việc vận chuyển số cây gỗ nên tiếp tục giao cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị tiếp tục quản lý, bảo vệ.

[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 20.798.730 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 243; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn D phạm tội “Hủy hoại rừng”

Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/8/2024).

Giao bị cáo Hồ Văn D cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp bị cáo Hồ Văn D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Hồ Văn D.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hồ Văn D phải bồi thường thiệt hại cho Ủy ban nhân dân xã H số tiền 419.968.242 đồng, để nộp vào ngân sách nhà nước.

“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự”.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 cây rựa có chiều dài 73cm, phần lưỡi bằng kim loại có chiều dài 32cm, có điểm rộng nhất của lưỡi rựa 05cm, điểm hẹp nhất 03cm; cán làm bằng gỗ có chiều dài 41cm, cán rựa được bo tròn có đường kính 03cm; 01 cái cuốc chim hai đầu, đã qua sử dụng, có kích thước: dài 63cm, rộng 19,5cm, được chia làm hai phần: Phần cán được làm bằng gỗ, hình trụ tròn có chiều dài tổng thể là 63cm, đường kính 03cm; phần lưỡi được làm bằng kim loại gồm hai đầu, trong đó: Một đầu của phần lưỡi dài 13cm, nơi rộng nhất 08cm, nơi hẹp nhất 05cm, nơi dày nhất 01cm; đầu còn lại có dấu vết gãy vỡ kim loại, chỉ còn lại một phần kim loại, có kích thước: dài 01cm, nơi rộng nhất 05cm, nơi dày nhất 05mm và 01 mảnh kim loại (dạng hình lưỡi rìu, đã qua sử dụng) có chiều dài tổng thể 13cm, nơi rộng nhất 08cm, nơi hẹp nhất 05cm, nơi dày nhất 05mm của Hồ Văn D.

Vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý và có đặc điểm được mô tả theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/7/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa.

- Tiếp tục giao cho UBND xã H bảo quản, quản lý số cây gỗ bị chặt hạ theo Biên bản bàn giao ngày 15/5/2024 giữa Hạt kiểm lâm H1 và UBND xã H.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 20.798.730 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, nguyên đơn dân sự đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Hướng Hóa;
  • - Công an huyện Hướng Hóa;
  • - Chi cục THA.DS huyện Hướng Hóa;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - UBND xã Hướng Phùng;
  • - Bị cáo; Nguyên đơn dân sự;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ về hủy hoại rừng

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Văn D - Huỷ hoại rừng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger