|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 83/2024/HS-ST Ngày: 23-7-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Vừ A Sinh
2. Ông: Lường Văn Hưởng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lục – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mường Ang, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Tùng Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST – HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo: Họ và tên: Lò Văn H; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1976 tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản HN, xã ẮC, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 02/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lò Văn H2, sinh năm: 1945 và con bà Lò Thị B, sinh năm: 1955; Gia đình bị cáo có 11 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Bị cáo có vợ là chị Lò Thị B, sinh năm 1978; Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án; tiền sự: không. Nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử lý hành chính; Bị cáo bị tạm giữ, giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện Mường Ảng từ ngày 16/4/2024 cho đến nay được trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Lò Văn H được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ ngày 15 tháng 4 năm 2024, Lò Văn H đi bộ từ nhà ở bản HN, xã ẮC, huyện MA đến bản Pá Liếng, xã Ẳng Cang, huyện Mường Ảng tìm mua ma túy để sử dụng. Khi ra đến đầu bản Pá Liếng thì Lò Văn H gặp 01 người đàn ông dân tộc Mông, không quen biết đứng ở cạnh đường. Qua trao đổi Lò Văn H đã mua được của người đàn ông đó 64 viên Hồng phiến (Methamphetamine) màu hồng đựng trong túi zip nilon màu xanh với giá 1.200.000đ. Sau khi mua được ma tuý Lò Văn H cất giấu trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 12 giờ 50 phút ngày 16/4/2024 Lò Văn H mang túi zip nilon màu xanh bên trong có 64 viên Hồng phiến đi từ nhà lên lán ruộng của gia đình thuộc bản Hua Ná, xã Ẳng Cang để đi làm, đang trên đường đi thì Lò Văn H bị Tổ Công tác Công an xã Ảng, huyện Mường Ảng yêu cầu dừng lại kiểm tra, đồng thời yêu cầu Lò Văn H có gì liên quan đến ma tuý ra giao nộp, thì Lò Văn H đã lấy trong túi quần ra 64 viên Methamphetamine được gói túi zip nilon màu xanh ra giao nộp. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong thu giữ 5,76 gam Methamphetamine.
Ngày 24/4/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Lò Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 13 giờ 55 phút ngày 16/4/2024 thì vật chứng thu giữ của Lò Văn H là 64 viên nén màu hồng có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine (Hồng phiến).
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 16/4/2024 thì 64 viên nén màu hồng có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine (Hồng phiến) có khối lượng là: 5,76 gam.
Tại bản kết luận giám định số: 718/KL-KTHS, ngày 23/4/2024 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn H là 5,76 gam là ma túy: Loại Methamphetamine. Lò Văn H lại đối tượng giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số: 60/CT - VKSMA, ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Lò Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 05 năm 02 tháng đến 05 năm 10 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 5,35 gam Methamphetamine là vật chứng Lò Văn H lại của vụ án. Tịch thu tiêu huỷ 01 túi Zip nilon màu xanh.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Lời nói sau cùng, Lò Văn H nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của bị cáo Lò Văn H cụ thể: Hồi 12 giờ 55 phút ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại khu vực bản HN, xã ẮC, huyện MA Lò Văn H đã có hành vi tàng trữ 5,76 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng.
Do vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để kết tội bị cáo Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được và biết rõ tác hại của ma túy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và hiểu được các quy định của Nhà nước nhưng bị cáo là người nghiện chất ma túy để thoả mãn nhu cầu của bản thân nên đã bất chấp pháp luật để thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo tàng trữ ma tuý có khối lượng 5,76 gam Methamphetamine, là tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 05 đến 10 năm tù.
[3]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên được gia đình cho đi học đến lớp 02/12 thì ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình. Năm 1996 kết hôn với chị Lò Thị B, sinh năm 1978 và có với nhau 02 người con. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy nên có nhân thân không tốt. Bởi vậy Hội đồng xét xử cần đưa ra mức hình phạt thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện ma túy. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bố đẻ là Lò Văn Hại được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của BLHS.
Theo khoản 5 Điều 249 của BLHS quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện Lò Văn H cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Tại phiên toà, xét thấy mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên HĐXX chấp nhận.
[6]. Về vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS Hội đồng xét xử thấy rằng: 5,35 gam Methamphetamine là vật chứng Lò Văn H lại, còn lại sau khi gửi mẫu giám định cần tịch thu tiêu hủy; 01 túi Zip nilon màu xanh không còn giá trị nên cần tịch thu để tiêu huỷ.
Về nguồn gốc số Methamphetamine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông, không biết tên vào ngày 15/4/2024. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng nên HĐXX không xem xét.
[7]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[8]. Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9]. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự:
-
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng: Điểm g Khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lò Văn H 05 (năm) năm 02 (hai) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 4 năm 2024.
-
Vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 5,35 gam Methamphetamine là vật chứng Lò Văn H lại sau khi gửi mẫu giám định. Tịch thu để tiêu huỷ 01 túi Zip nilon màu xanh (Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/6/2024).
-
Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn H.
-
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Vân |
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn H - Tàng trữ trái phép chất ma túy
