Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày 23 – 5 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hà Văn Tôn
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Bà Trần Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Lại Văn L, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 09/8/1965, tại: Thái Nguyên; Nơi cư trú: Xóm C, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 05/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lại Văn C (đã chết); con bà: Phạm Thị T (Đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965 và có 02 con, con lớn sinh năm 1985, con nhỏ sinh năm 1987; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2012/HSST ngày 25/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố) P đã xử phạt Lại Văn L 10 (M) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong bản án ngày 21/01/2020. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 19/01/2024, đến ngày 28/01/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị T1; sinh năm 1991; Nơi cư trú: Xóm C, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt

- Người làm chứng: Anh Đặng Văn Q, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt

- Người chứng kiến:

  1. Ông Ngô Xuân M1, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt
  2. Ông Đặng Văn T2, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 19/01/2024, Công an xã P, thành phố P đến chỗ ở của Đặng Văn Q (sinh năm 1977) tại xóm Đ, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên gửi Giấy mời số 05 ngày 19/01/2024 mời Quảng đến trụ sở Công an xã P để kiểm tra việc sử dụng ma túy của Q. Khi lực lượng Công an xã đến nhà Q thì phát hiện có Lại Văn L (sinh năm 1965, trú tại xóm C, xã P, thành phố P) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, biển kiểm soát: 20H1- 379.28 cũng đến nhà Q nên đã yêu cầu kiểm tra hành chính đối với L. Quá trình kiểm tra, Lưu không xuất trình được bất kì giấy tờ tùy thân nào, L có khai nhận đang cất giấu ma túy trong người rồi tự nguyện giao nộp từ túi áo khoác bên phải đang mặc 02 (hai) gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất rắn dạng cục màu trắng và 01 (một) gói giấy bạc màu vàng từ túi quần phía trước, bên phải L đang mặc, bên trong có chứa chất rắn dạng cục màu trắng. Theo L khai nhận toàn bộ số chất rắn dạng cục màu trắng nêu trên là ma tuý loại Heroine, Lưu mua của một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) với giá 250.000 (hai trăm năm mươi nghìn) đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác Công an xã P đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong toàn bộ số vật chứng thu giữ rồi chuyển toàn bộ hồ sơ tài liệu cùng đối tượng L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân tổng khối lượng số chất rắn dạng cục màu trắng thu giữ của Lại Văn L được 0,316 gam, sau đó cho vào phong bì ký hiệu K gửi giám định. (BỊ 25. 26). Tại bản Kết luận giám định số 274/KL-KTHS ngày 27/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất rắn dạng cục M2 trắng trong phong bì ký hiệu K gửi giám định là chất ma tuý loại Heroine, có khối lượng 0,316 gam.

Quá trình điều tra, Lại Văn L khai nhận: Bản thân L là người nghiện ma tuý, khoảng 09 giờ 30 phút ngày 19/01/2024, L điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát: 20H1-379.28 đi sang khu vực ngã tư phường B, thành phố P nhằm mục đích mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Đến nơi, Lưu gặp một người đàn ông (không biết tên tuổi, địa chỉ người này) và nói với người này bán cho L 250.000 (Hai trăm năm mươi nghìn) đồng ma tuý, người đàn ông đưa lại cho L 02 (hai) gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất rắn dạng cục màu trắng là ma tuý, loại Heroine. Mua được ma tuý, Lưu cất vào trong túi áo khoác bên phải L đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà Đặng Văn Q (sinh năm 1977) tại xóm Đ, xã P, thành phố P để sử dụng ma túy. Trên đường đi, Lưu dừng lại và lấy một phần ma túy từ một trong hai gói giấy bạc màu trắng để vào một gói giấy bạc màu vàng, rồi cất gói giấy bạc màu vàng vào túi quần phía trước bên phải đang mặc. Khi L đến nhà Quảng thị bị lực lượng Công an xã P yêu cầu kiểm tra hành chính, Lưu đã tự nguyện giao nộp số ma túy nêu trên.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong có 0,299 gam ma tuý, loại Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa vỏ bao mẫu lưu kho; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu sơn: Hồng, biển kiểm soát: 20H1 379.28, có số máy: JF66E0062684, số khung: RLHJF5813GY062596, đã qua sử dụng. Toàn bộ số vật chứng này được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục hành án dân sự thành phố P chờ xử lý.

Do có hành vi nêu trên, nên tại bản Cáo trạng số: 69/CT-VKSPY ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lại Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng số: 69/CT-VKSPY ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lại Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Lại Văn L mức án từ 18 đến 24 tháng tù giam. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 19/01/2024.

  1. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong có 0,299 gam ma tuý, loại Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa vỏ bao mẫu lưu kho;
  • Trả lại cho chị Hoàng Thị T1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu sơn: Hồng, biển kiểm soát: 20H1 379.28, có số máy: JF66E0062684, số khung: RLHJF5813GY062596, đã qua sử dụng

Ngoài ra, còn đề nghị bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng.

Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm hòa nhập cộng đồng, thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Lại Văn L tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng ... và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do bản thân là người nghiện ma tuý nên hồi 10 giờ 30 phút ngày 19/01/2024, tại xóm Đ, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Lại Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,316 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã P bắt quả tang, thu giữ vật chứng

Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Do đó, bản Cáo trạng số: 65/CT-VKSPY ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo không chịu lao động, tu dưỡng, rèn luyện nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.

[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

  • Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu bởi trước đó bị cáo đã bị xét xử về tội phạm liên quan đến ma tuý, tuy đã được xoá án tích theo quy định nhưng đây cũng là yếu tố nhân thân cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc loại tội nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương và làm phát sinh thêm các loại tội phạm khác nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp được chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 còn quy định:

“...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...”

Tuy nhiên, qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

[7]. Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong có 0,299 gam ma tuý, loại Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa vỏ bao mẫu lưu kho – Xác định là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu sơn: Hồng, biển kiểm soát: 20H1 379.28, có số máy: JF66E0062684, số khung: RLHJF5813GY062596, đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định chiếc xe này là tài sản hợp pháp của chị Hoàng Thị T1, việc bị cáo L sử dụng vào việc đi mua ma tuý chị T1 không biết. Mặt khác chiếc xe này là phương tiện kiếm sống của chị T1 nên cần trả lại cho chị Hoàng Thị T1 quản lý sử dụng

[8]. Về chi phí tố tụng: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định

[10]. Về các vấn đề khác của vụ án: Trong vụ án này, theo Lại Văn L khai còn có đối tượng nam giới là người có hành vi bán ma túy cho Lại Văn L tuy nhiên Lưu không biết nhân thân, lai lịch của người nam giới này là ai nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lại Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt:

2.1 Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lại Văn L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 19/01/2024.

- Tiếp tục tạm giam bị cáo Lại Văn L 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo công tác thi hành án.

2.2 Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lại Văn L

3. Về biện pháp tư pháp:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong có 0,299 gam ma tuý, loại Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa vỏ bao mẫu lưu kho.
  • Trả lại cho chị Hoàng Thị T1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu sơn: Hồng, biển kiểm soát: 20H1 379.28, có số máy: JF66E0062684, số khung: RLHJF5813GY062596, đã qua sử dụng.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 24/4/2024.

4. Về chi phí tố tụng: Bị cáo Lại Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lại Văn L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Phổ Yên;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an Tp. Phổ Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an TP. Phổ Yên;
  • - Chi cục THADS TP. Phổ Yên;
  • - Bị cáo; Bị hại; Đương sự trong vụ án (nếu có);
  • - Người bào chữa (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hải Chiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lại Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger