Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CÀ MAU

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST

Ngày 22 – 4 – 2024

Về việc xin ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Hà Trọng Tâm.
  • - Ông Nguyễn Hoàng Kha.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Xuân Thùy Dương, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2024 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Mai Thị Thanh T, sinh năm 1978 (xin vắng mặt).
  • Địa chỉ cư trú: đường T, khu phố H, phường M, thành phố N, tỉnh Tiền Giang.
  • - Bị đơn: Anh Võ Văn H; sinh năm 1988 (vắng mặt).
  • Địa chỉ cư trú: khóm S, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án chị Mai Thị Thanh T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Võ Văn H chung sống vợ chồng vào năm 2014, đến năm 2015 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 1, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang vào ngày 07/01/2015 theo giấy chứng nhận kết hôn số 01/2015. Trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh H không chí thú làm ăn, cờ bạc, rượu chè, cuộc sống không tìm được tiếng nói chung. Nay chị xét thấy cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn tình cảm nên chị yêu cầu ly hôn anh H.

Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Ngọc Gia H', sinh ngày 22/01/2015, hiện cháu đang sống với chị. Khi ly hôn, chị T yêu cầu trực tiếp nuôi con, yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ.

Tài sản chung: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị khai không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị.

Đối với anh Võ Văn H, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần đến phiên tòa để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử vụ án nhưng anh H vẫn không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Mai Thị Thanh T có đơn xin vắng mặt. Anh Võ Văn H đã được tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng anh vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Mai Thị Thanh T và anh Võ Văn H chung sống vợ chồng vào năm 2014, đến năm 2015 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 1, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang vào ngày 07/01/2015 theo giấy chứng nhận kết hôn số 01/2015 nên hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận bảo vệ. Trong quá trình chung sống theo chị T trình bày thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh H không chí thú làm ăn, cờ bạc, rượu chè, cuộc sống không tìm được tiếng nói chung. Nay chị xét thấy cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn tình cảm nên chị yêu cầu ly hôn anh H. Đối với anh H không đến Tòa án tham gia phiên tòa, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc chị T xin ly hôn. Xét thấy: Đời sống hôn nhân của anh, chị đã không còn, mâu thuẫn là có xảy ra, anh H không có biện pháp hàn gắng vợ chồng, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị được ly hôn anh T.

[3] Về con chung: Chị Tuyền xác định có 01 con chung tên Võ Ngọc Gia H', sinh ngày 22/01/2015 hiện cháu đang sống cùng chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Anh H không đến Tòa án cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi dưỡng chăm sóc, con chung. Xét thấy, hiện cháu H' đang sống với chị T, nguyện vọng cháu H' cũng muốn sống với mẹ nếu cha mẹ ly hôn và tránh xáo trộn cuộc sống sinh hoạt nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu H' cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án, chị T yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi cháu H' mỗi tháng 2.000.000đ. Anh H không gửi văn bản trình bày về mức cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cấp dưỡng nuôi con là trách nhiệm của cha mẹ, căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng nên mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con với số tiền 1.000.000đ/tháng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận cần buộc anh H cấp dưỡng nuôi cháu H' mỗi tháng 1.000.000đ.

[5] Về tài sản chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét;

[6] Về nợ chung: Chị T khai vợ, chồng không nợ ai và không ai nợ lại vợ, chồng nên không đặt ra giải quyết.

2

[7] Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Mai Thị Thanh T về việc xin ly hôn anh Võ Văn H.
  • - Về con chung: Giao cháu Võ Ngọc Gia H', sinh ngày 22/01/2015 cho chị Mai Thị Thanh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Võ Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H' mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày chị T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh H không tự nguyện thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Anh Võ Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

  • - Về tài sản chung: Chị T khai không có.
  • - Về nợ chung: Chị T khai không có.
  • - Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, chị Mai Thị Thanh T phải chịu 300.000đ. Ngày 18 tháng 01 năm 2024, chị T đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 300.000₫ theo biên lai số 0007959 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau nên được đối trừ chuyển thu sung công quỹ nhà nước.
  • + Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Võ Văn H phải nộp 300.000₫ (Chưa nộp).

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND Tp. Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường 1, Tp Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang;
  • - Lưu: Hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Lê Thị Thu

3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn (Hôn nhân và gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Mai Thị Thanh T về việc xin ly hôn anh Võ Văn H. - Về con chung: Giao cháu Võ Ngọc Gia H’, sinh ngày 22/01/2015 cho chị Mai Thị Thanh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Võ Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H’ mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày chị T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh H không tự nguyện thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án. Anh Võ Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở. - Về tài sản chung: Chị T khai không có. - Về nợ chung: Chị T khai không có.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger