|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 83/2023/HSPT Ngày: 21/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thái Hùng.
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc.
Ông Phạm Trung Dũng.
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Hồng - Thư ký Tòa án.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 100/2023/HSPT ngày 27/6/2023 đối với bị cáo Hồ Thị Q và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HSST ngày 11/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Các bị cáo có kháng cáo:
-
Hồ Thị Q, sinh năm: 1963 tại Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký thường trú: ấp C, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ H (đã chết) và bà bà Lê Thị L (đã chết); chồng: Nguyễn K, sinh năm 1961; con: 05 con, con lớn nhất sinh năm 1980, con nhỏ nhất sinh năm 1992;
Tiền án: không; tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 05/02/2023 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt tại phiên tòa).
-
Trương Thị Ngọc O, sinh năm 1988 tại Long An; nơi đăng ký thường trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Minh N, sinh năm 1960 và bà Võ Thị Thúy E, sinh năm: 1963; chồng: Nguyễn Ngọc N1, sinh năm 1983; con: 02 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2013;
Tiền án: không; tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 05/02/2023 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt tại phiên tòa).
-
Ma Thị L1, sinh năm: 1988 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: ấp C, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: thợ làm thẩm mỹ (Spa); trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: chăm; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma L2 (đã chết) và bà Hà Thị H1, sinh năm 1955; chồng: Nguyễn Hoàng A, sinh năm: 1974; con: 02 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2012;
Tiền án: không; tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 05/02/2023 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Thị L3, sinh năm: 1977 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T (đã chết) và bà Trần Thị N2, sinh năm 1954; chồng: Dương Thanh L4, sinh năm 1976; con: 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2006;
Tiền án: không; tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 05/02/2023 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt tại phiên tòa).
-
Phạm Thị Mỹ H2, sinh năm: 1983 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Ơ, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1962; chồng: Hồ Xuân H3, sinh năm 1982; con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2016;
Tiền án: không; tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 05/02/2023 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Phạm Thị T1 nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 30/01/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có nhiều đối tượng tụ tập đánh bạc tại nhà Hồ Thị Q thuộc ấp C, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Cơ quan Công an xã Q, Công an huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bắt quả tang Trương Thị Ngọc O, Phạm Thị Mỹ H2, Ma Thị L1, Phạm Thị T1 và Nguyễn Thị L3 đang đánh bạc dưới hình thức đánh xì lát ăn tiền. Tang vật thu giữ gồm: thu giữ trên chiếu bạc 18.600.000 đồng, thu giữ trong người các con bạc 300.000 đồng (Quỳ 150.000 đồng, L1 150.000 đồng); 03 điện thoại di động các loại (Gồm 01 Iphone 11 Pro Max; 01 Iphone 12, 01 Sam sung Galaxy A03s); 02 bộ bài tây 52 lá (Đã qua sử dụng) và 01 tấm vải mền kích thước 1,8m x 1,6m.
Quá trình điều tra, chứng minh được: vào khoảng 14 giờ ngày 30/01/2023, O, H2, L1, T1, L3 và 01 người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) đến nhà Q chơi rồi cả bọn rủ nhau đánh bài xì lát ăn tiền. Hình thức chơi: các con bạc thay phiên nhau làm cái xoay vòng, cứ 03 ván thì đổi người làm cái 01 lần (ai không muốn làm cái thì được bỏ qua). Người làm cái chia cho mỗi người chơi 02 lá bài, số bài còn lại đặt ở giữa chiếu bạc. Mỗi người tự rút thêm bài ở giữa chiếu bạc (Tối đa 03 lá bài) cộng với bài trên tay để đạt từ 16 điểm đến 21 điểm rồi so bài với người làm cái. Điểm của ai lớn hơn thì thắng. Nếu bài của ai vượt quá 21 điểm gọi là “quắc” và thua tiền cho người làm cái. Tỷ lệ thắng thua là 1.1 (thắng thua bằng số tiền đã đặt cược). Mỗi ván đặt cược tối thiểu là 50.000 đồng/ván, tối đa là 300.000 đồng/ván. Người làm cái sẽ đưa cho Q từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng/vòng (01 vòng được tính là 03 ván) tiền xâu.
Hành vi của Hồ Thị Q: Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 30/01/2023, Q đang ở nhà thì L3, L1, H2, T1, O và một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) đến nhà chơi rồi rủ nhau đánh bài xì lát ăn tiền. Do biết người đánh bạc sẽ cho mình tiền xâu nên Q đi mua 01 cây bài (gồm 10 bộ bài) cho cả nhóm đánh bạc. Theo quy định, người nào làm cái 03 ván xoay vòng thì đưa cho Q 10.000 đồng tiền xâu (bắt buộc). Khi người làm cái thắng có thể cho Q 20.000 đồng tiền xâu (tự nguyện chứ không bắt buộc). Chơi đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an xã Q bắt quả tang, thu giữ của Quỳ 150.000 đồng tiền xâu.
Hành vi của Trương Thị Ngọc O: khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30/01/2023, O đến nhà Q chơi thì thấy một số người đang đánh bài xì lát ăn tiền nên O đến đánh bạc cùng. O sử dụng 4.400.000 đồng để đánh bạc. O có làm cái (không nhớ bao nhiêu ván) và đặt cược mỗi ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng (không nhớ bao nhiêu ván). Chơi đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an xã Q bắt quả tang, thu giữ của O 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12. O chưa kiểm tiền nên không biết thắng hay thua bạc, toàn bộ tiền đánh bạc O đều để trên chiếu bạc và đã bị thu giữ.
Hành vi của Phạm Thị T1: khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30/01/2023, T1 mang theo 4.000.000 đồng đến nhà Q để đánh bạc. T1 có làm cái (không nhớ bao nhiêu ván) và tham gia đặt cược mỗi ván từ 50.000 đồng đến 300.000 đồng (không nhớ đặt cược bao nhiêu ván). Chơi đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an xã Q bắt quả tang. T1 thua hết 1.500.000 đồng, còn 2.500.000 đồng T1 để trên chiếu bạc đã bị thu giữ.
Hành vi của Ma Thị L1: khoảng 14 giờ 15 phút ngày 30/01/2023, L1 đi bộ sang nhà Q để đánh bài ăn tiền. L1 sử dụng 3.050.000 đồng để đánh bạc. L1 làm cái (không nhớ bao nhiêu ván) và đặt cược mỗi ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng (không nhớ bao nhiêu ván). Chơi đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an xã Q bắt quả tang, thu giữ trên tay L1 150.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max.
Hành vi của Nguyễn Thị L3: khoảng 15 giờ ngày 30/01/2023, L3 đi bộ đến nhà Q để tìm Phạm Thị Tuyết . Thấy T1, L1, O, H2 và một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) đang đánh bạc nên L3 đánh bạc cùng. L3 sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc, đặt cược mỗi ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng (không nhớ bao nhiêu ván). Chơi đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an xã Q bắt quả tang, thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A03s.
Hành vi của Phạm Thị Mỹ H2: khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30/01/2023, H2 đi bộ sang nhà Q để hỏi tiền hụi thì thấy L1, L3, O, T1 và 01 người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) đang tụ tập ở nhà Q. Sau đó, cả nhóm rủ nhau đánh bài xì lát ăn tiền. H2 sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc. H2 làm cái 01 lượt (03 ván) và bị thua nên không làm cái nữa. Sau đó, H2 đặt cược 50.000 đồng/ván. Khi thấy thắng bạc, H2 tăng tiền đặt cược lên 200.000 đồng /ván (không nhớ đặt cược bao nhiêu ván). Chơi đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an xã Q bắt quả tang.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Hồ Thị Q, Trương Thị Ngọc O, Phạm Thị T1, Ma Thị L1, Nguyễn Thị L3, Phạm Thị Mỹ H2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HSST ngày 11/5/2023, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định: tuyên bố các bị cáo Hồ Thị Q, Trương Thị Ngọc O, Phạm Thị T1, Ma Thị L1, Nguyễn Thị L3, Phạm Thị Mỹ H2 phạm tội “Đánh bạc”;
Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Hồ Thị Q 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 05/02/2023;
Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Trương Thị Ngọc O 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 05/02/2023;
Áp dụng Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Ma Thị L1 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 05/02/2023;
Áp dụng Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị L3 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 05/02/2023;
Áp dụng Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Phạm Thị Mỹ H2 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 05/02/2023;
Hình phạt bổ sung: buộc các bị cáo Hồ Thị Q, Trương Thị Ngọc O, Phạm Thị T1, Ma Thị L1, Nguyễn Thị L3, Phạm Thị Mỹ H2, mỗi bị cáo nộp 10.000.000 (mười triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Phạm Thị T1 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 11/5/2023, các bị cáo Phạm Thị Mỹ H2, Trương Thị Ngọc O, Nguyễn Thị L3, Ma Thị L1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Ngày 16/5/2023, bị cáo Hồ Thị Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án: Về tố tụng: các bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ. Về nội dung: bản án sơ thẩm đã kết án các bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Q 13 (mười ba) tháng tù, bị cáo O 10 (mười) tháng tù, bị cáo L1 08 (tám) tháng tù, bị cáo L3, H2 07 (bảy) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ tội phạm và nhân thân của các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không cung cấp tình tiết nào mới theo qui định, vì vậy đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với qui định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
2.1 Về tội danh: lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 30/01/2023, tại nhà Hồ Thị Q, thuộc ấp C, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Cơ quan Công an xã Q, Công an huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bắt quả tang Trương Thị Ngọc O, Phạm Thị T1, Ma Thị L1, Nguyễn Thị L3 và Phạm Thị Mỹ H2 đang đánh bạc dưới hình thức đánh xì lác ăn tiền. Tang vật thu giữ gồm: thu giữ trên chiếu bạc 18.600.000 đồng, thu giữ trong người các con bạc 300.000 đồng (Quỳ 150.000 đồng, L1 150.000 đồng); thu giữ 03 điện thoại di động các loại, 02 bộ bài tây 52 lá và 01 tấm vải mền kích thước 1,8m x 1,6m.
Hồ Thị Q tuy không tham gia đánh bạc cùng các bị cáo nhưng đã sử dụng nhà của mình cho các bị cáo khác đánh bạc, đồng thời đi mua 01 cây bài (Gồm 10 bộ bài) cho các bị cáo trên đánh bạc tại nhà của mình để thu tiền xâu. Tuy nhiên, do số người đánh bạc dưới 10 người và số tiền đánh bạc dưới 20.000.000 đồng nên hành vi này của Q đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Căn cứ vào số tiền đánh bạc, Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo Hồ Thị Q, Trương Thị Ngọc O, Phạm Thị T1, Ma Thị L1, Nguyễn Thị L3, Phạm Thị Mỹ H2 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
2.2 Xét kháng cáo của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh trong khu dân cư, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ là tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có hoàn cảnh khó khăn theo quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Từ đó tuyên phạt các bị cáo từ 07 đến 13 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo.
Tuy nhiên, trong vụ án này, các bị cáo tham gia đánh bạc với vai trò và tính chất mức độ tương đương nhau. Với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự giống nhau, Hội đồng xét xử sơ thẩm cho bị cáo Phạm Thị T1 được hưởng án treo nhưng áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo khác là không hợp lý và không có sự công bằng giữa các bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo có kháng cáo cho phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo trong toàn bộ vụ án. Xét thấy, các bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền không lớn, vì muốn kiếm tiền nhanh chóng mà không phải lao động chân chính nên thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi cuộc sống bình thường của xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Do hành vi của bị cáo Hồ Thị Q tổ chức cho các bị cáo khác đánh bạc, có vai trò lớn hơn các bị cáo khác nên cần áp dụng mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác trong vụ án. Ngoài ra, do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt chính và hình phạt bổ sung đối với các bị cáo có kháng cáo.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại Nghị quyết số 36/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 355; điểm a, đ Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Hồ Thị Q, Trương Thị Ngọc O, Ma Thị L1, Nguyễn Thị L3, Phạm Thị Mỹ H2, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HSST ngày 11 tháng 05 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về phần hình phạt:
Áp dụng Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Hồ Thị Q 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng; tuyên phạt các bị cáo Trương Thị Ngọc O, Ma Thị L1, Nguyễn Thị L3, Phạm Thị Mỹ H2 mỗi bị cáo 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng sung quỹ Nhà nước;
Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
- Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thái Hùng |
(21/8/2023)
Bản án số 83/2023/HSPT ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU về vụ án hình sự về tội đánh bạc (gambling)
- Số bản án: 83/2023/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Đánh bạc (Gambling)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Thị Q - Đánh bạc
