|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 83/2024/HS-ST Ngày 21 - 6 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Việt Hưng
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và bà Vũ Thị Dinh.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS; ngày 10 tháng 6 năm 2024. Đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Trịnh Quang Đ; Sinh ngày 29/6/1981, giới tính: N, tại huyện T, tỉnh Thái Bình. Nơi thường trú: Thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, Tôn giáo: không, trình độ học vấn: 7/12, nghề nghiệp: Đi tàu biển, căn cước công dân số: [...]. Con ông: Trịnh Quang C, sinh năm 1953; Con bà: Bùi Thị M, sinh năm 1954. Có vợ: Lê Thị H, sinh năm 1984. Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/02/2024, đến ngày 05/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ tên: Trịnh Văn H1; sinh ngày 19/6/1990; giới tính: Nam, tại huyện T, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không, trình độ học vấn: 9/12, nghề nghiệp: Đi tàu biển, căn cước công dân số: [...]. Con ông: Trịnh Văn G (đã chết); con bà: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1964.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Từ tháng 02/2009 đến tháng 01/2011 tham gia nghĩa vụ quân sự, xuất ngũ về địa phương.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/02/2024, đến ngày 05/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
3. Họ tên: Nguyễn Trọng H2; sinh ngày 28/7/1989, giới tính: N, tại huyện T, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không, trình độ học vấn: 12/12, nghề nghiệp: Đi tàu biển, căn cước công dân số: [...]. Con ông: Nguyễn Hồng H3, sinh năm 1963; Con bà: Hà Thị L, sinh năm 1965. Có vợ: Ngô Thị H4, sinh năm 1990; có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Từ tháng 9/2007 đến tháng 01/2009 tham gia nghĩa vụ quân sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/02/2024, đến ngày 05/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
4. Họ tên: Trịnh Văn C1; Tên gọi khác: P; sinh ngày 23/12/1987; giới tính: Nam, tại huyện T, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Công giáo, trình độ học vấn: 9/12, nghề nghiệp: lao động tự do, căn cước công dân số: [...]. Con ông: Trịnh Xuân C2, sinh năm 1960; Con bà: Lê Thị S, sinh năm 1960. Có vợ: Đỗ Thị H5, sinh năm 1990; có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2012 con nhỏ nhất sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/02/2024, đến ngày 05/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
5. Họ tên: Nguyễn Trọng H6; sinh ngày 18/02/1979; giới tính: Nam; tại huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không, trình độ học vấn: 6/12, nghề nghiệp: Lao động tự do, căn cước công dân số: [...]. Con ông: Nguyễn Trọng H7, sinh năm 1950; con bà: Vũ Thị V, sinh năm 1952. Có vợ Nguyễn Thị V1, sinh năm 1983; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2012.
Tiền án: Bản án số 69/2020/HS-ST ngày 11-11-2020 của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 27 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 24/5/2022, chấp hành xong án phí ngày 24/12/2020.
Tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 21/02/2024 đến ngày 27/02/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
6. Họ tên: Hoàng Văn H8; sinh ngày 20/4/1968; giới tính: Nam, tại huyện T, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không, trình độ học vấn: 4/12, nghề nghiệp: Lao động tự do, căn cước công dân số: [...]. Con ông: Hoàng Văn H9, con bà: Vũ Thị T (Đều đã chết). Có vợ: Vũ Thị M1, sinh năm 1971, có 02 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 2002.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Chị Lê Thị H, sinh năm 1984, trú tại thôn T, xã T; huyện T, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
- Anh Nguyễn Văn H10, sinh năm 1978, trú tại thôn V, xã T;huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Anh Phạm Huy P1, sinh năm 1969, trú tại thôn C, xã T; huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Anh Đỗ Quang Đ1, sinh năm 1987 trú tại thôn B, xã T, huyện T (Đ vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 05 tháng 02 năm 2024 Trịnh Quang Đ có tổ chức liên hoan tất niên cho những người đi làm tàu thu mua hải sản cho Đ và một số bạn bè của Đ trong đó có Nguyễn Trọng H2, Trịnh Văn C1, Trịnh Văn H1, Hoàng Văn H8 và Nguyễn Trọng H6. Sau khi ăn uống ở quán xong, khoảng 19 giờ cả nhóm khoảng hơn 10 người đi về nhà Đ tại thôn T, xã T, huyện T để hát karaoke và nhận quà tết. Đến khoảng 19 giờ 30 phút, khi mọi người đang hát tại phòng khách nhà Đ, Đ có kể cho H1, H2 và một số người tại đó về việc có người đi biển cho pháo để ở cabin trên tàu của Đ nhưng không biết là ai, Đ cầm về để ở nhà mục đích để tết đốt lấy may. Khi thấy Đ kể vậy thì có người nói “Mang pháo ra đốt tỷ”. Đ đồng ý, rồi đi vào trong phòng ngủ tầng 1 ngay cạnh phòng khách, thấy vậy H2 cũng đi theo Đ vào trong phòng ngủ tầng 1. Đ lấy trên nóc tủ quần áo 01 túi nilon màu đen, bên trong có 01 bánh pháo dài khoảng 01 m được kết bởi 20 quả pháo, mỗi quả pháo được cuốn thành hình trụ tròn gói bằng giấy màu đỏ, đường kính mỗi quả khoảng 01 cm, dài khoảng 03 cm, mỗi quả đều có ngòi dẫn cháy, không ghi nhãn hiệu, chữ viết (Không phải pháo do Bộ Q sản xuất và cấp phép). Đ lấy pháo trong túi nilon ra để xuống dưới nền nhà ngay
cạnh đầu giường ngủ, H2 cầm tràng pháo mang ra ngoài đường, thấy vậy H1 đi ra trước. Khi H1, H2, Đ đi ra ngoài cổng nhà Đ, là đường liên xã T - T, H1 ra hiệu, chỉ tay xuống vị trí ở dưới lòng đường cho H2 trải tràng pháo ra, H2 làm theo trải pháo ra đường, khi H1 đang chỉnh lại tràng pháo cho thẳng ra thì ông Phạm Huy P1, sinh năm 1969, trú tại thôn C, xã T, huyện T đi lại ngăn cản, nhặt tràng pháo lên, nhưng bị H1 giằng lại. H1 giằng lại tràng pháo từ ông P1, trải lại tràng pháo xuống lòng đường rồi H1 lấy bật lửa hút thuốc lá có sẵn trên người, cúi xuống châm lửa vào ngòi pháo ở một đầu đốt nhưng không cháy. Lúc này C1, H6, H8 đi từ trong nhà ra, thấy H1 đốt không được, H8 cúi xuống nhấc tràng pháo lên rồi trải lại tràng pháo ra giữa đường để mọi người đốt, H2 cũng đỡ lấy một đầu tràng pháo rồi trải cho tràng pháo thẳng ra. Sau đó H2, H6 ngồi xuống dùng bật lửa châm lửa đốt pháo nhưng ngòi pháo vẫn không cháy. Thấy H2, H1 và H6 đốt mấy lần không được, nên C1 (tức P) cầm bật lửa ga màu đỏ từ H2 châm vào đầu ngòi pháo còn lại thì pháo cháy làm các quả pháo phát nổ và gây ra tiếng nổ lớn. C1 và mọi người cùng đứng ngay lề đường trước cửa cổng nhà Đ xem. Tiếng pháo nổ to kèm theo có nhiều khói, ảnh hưởng đến người tham gia giao thông trên trục đường. Pháo nổ được khoảng hơn 1 phút, thì Đ bảo anh Nguyễn Văn H10, sinh năm 1978, trú tại thôn V, xã T lấy nước ra dập. Sau khi anh H10 mang chậu nước ra dội vào tràng pháo đang phát nổ thì pháo tắt (Khi này tràng pháo còn khoảng 20 cm nữa). Khi pháo tắt hẳn thì H2, vợ Đ và vợ chồng anh H10 cầm chổi ra quét, dọn xác pháo ở trên mặt đường, rồi mọi người tiếp tục vào trong nhà Đ hát, đến khoảng hơn 21 giờ thì mọi người đi về.
Bản cáo trạng số: 73/CT - VKSTTTB ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình và tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy thực hiện quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Trịnh Quang Đ, Nguyễn Trọng H2, Trịnh Văn C1, Trịnh Văn H1, Nguyễn Trọng H6, Hoàng Văn H8 Và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Trịnh Quang Đ, Nguyễn Trọng H2, Trịnh Văn C1, Trịnh Văn H1, Nguyễn Trọng H6, Hoàng Văn H8 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
* Về hình phạt:
1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H6 từ 04 tháng đến 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 21 tháng 02 năm 2024.
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Quang Đ từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm 06 tháng đến 02 năm.
1.3. Áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H2 từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm đến 01 năm 6 tháng.
1.4. Áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Văn C1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm đến 01 năm 6 tháng.
1.5 Áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Văn H1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm đến 01 năm 6 tháng.
1.6. Áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn H8 từ 04 tháng đến 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47; Bộ luật hình sự điểm a khoản 1 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử lý theo quy định của pháp luật.
* Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
* Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Các bị cáo không tranh luận gì với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ kết tội các bị cáo: Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại nhà của Trịnh Quang Đ, Đ lấy 01 tràng pháo dài khoảng 01 m được kết bởi 20 quả pháo, mỗi quả pháo được cuốn thành hình trụ tròn gói bằng giấy màu đỏ, đường kính mỗi quả khoảng 01 cm, dài khoảng 03 cm, mỗi quả đều có ngòi dẫn cháy, không ghi
nhãn hiệu, chữ viết (Không phải pháo do Bộ Q sản xuất và cấp phép) ở trên nóc tủ quần áo nhà Đ để mang ra đốt. Đ để xuống đất thì Nguyễn Trọng H2 cầm tràng pháo mang ra ngoài đường trước cửa nhà Đ; Nguyễn Trọng H2, Trịnh Văn H1 và Hoàng Văn H8 có hành vi trải tràng pháo xuống dưới lòng lường thuộc đường trục xã T - T rồi Trịnh Văn H1, Nguyễn Trọng H2, Nguyễn Trọng H6 và Trịnh Văn C1 có hành vi dùng bật lửa đốt làm pháo cháy, nổ kêu to và khói ảnh hưởng đến người tham gia giao thông, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự và vi phạm điều cấm của pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau. Báo cáo của chính quyền địa phương, của Công an xã T. Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường. Kết luận giám định số 441/KL-KTHS ngày 08/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T “1. Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh của 01 tập video lưu trữ trong thẻ nhớ gửi giám định. 2. Nội dung diễn biến, đặc điểm, hành vi của các đối tượng liên quan đến vụ việc đốt pháo nổ trong tập tin (Tệp) video gửi giám định được trích xuất, mô tả trong Phụ lục kèm theo Kết luận giám định”. Phụ lục kèm theo Kết luận giám định thể hiện có 06 đối tượng có hành vi tham gia, tác động vào tràng pháo. Biên bản làm việc nhận diện người trong đoạn video và hình ảnh tập tin video qua giám định được trích xuất mô tả trong Phụ lục kèm theo Kết luận giám định. Lời khai của những người làm chứng chị Lê Thị H; anh Nguyễn Văn H10; anh Phạm Huy P1; anh Đỗ Quang Đ1 cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng
1. Người nào gây rối trạt tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Trịnh Quang Đ, Nguyễn Trọng H2, Trịnh Văn C1, Trịnh Văn H1, Nguyễn Trọng H6, Hoàng Văn H8 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Các bị cáo Trịnh Quang Đ, Nguyễn Trọng H2, Trịnh Văn C1, Trịnh Văn H1, Nguyễn Trọng H6, Hoàng Văn H8 trải pháo không phải pháo do Bộ Q cấp phép trải ra đường dùng bật lửa đốt làm pháo cháy, nổ kêu to và khói gây ảnh hưởng đến người tham gia giao thông. Hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại nơi công cộng.
[4] Về tính chất đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của các bị cáo. Xét về vai trò phạm tội thì đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Đ là người khởi xướng, cung cấp pháo cho các bị cáo khác đốt nên bị cáo Đ giữ vai trò chính trong vụ án; các bị cáo H2, H1, H6, C1, H8 có hành vi tham gia
trực tiếp trải pháo xuống lòng đường hoặc đốt pháo nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình với vai trò đồng phạm.
[4.1] Phân hóa vai trò hành vi phạm tội của các bị cáo: Bị cáo Trịnh Quang Đ là người khởi xướng, cung cấp pháo cho các bị cáo khác đốt nên giữ vai trò đầu.
[4.2] Các bị cáo Trịnh Văn H1 có hành vi mang pháo ra trải tràng pháo xuống dưới lòng đường, rồi Trịnh Văn H1, Nguyễn Trọng H2 cùng tham gia đốt pháo nhưng do ngòi pháo ẩm nên không cháy và Trịnh Văn C1 có hành vi dùng bật lửa đốt làm pháo cháy nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình với vai trò đồng phạm nên bị cáo H1, H2, C1 cùng giữ vai trò thứ hai trong vụ án.
[4.3] Bị cáo Nguyễn Trọng H6 có hành vi đốt pháo nhưng pháo chưa nổ, Hoàng Văn H8 có hành vi trải tràng pháo xuống dưới lòng lường thuộc đường trục xã T - T nên giữ vai trò thứ yếu trong vụ án.
[5]. Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Trọng H6 bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đ, H2, C1, H1, H8 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H2, H1 đã tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H6 đầu thú, trong quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5.3]. Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Trọng H6 thì Hội đồng xét xử thấy bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục có hành vi phạm tội vì vậy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhưng cũng xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước.
[5.4]. Đối với các bị cáo Trịnh Quang Đ, Trịnh Văn C1, Trịnh Văn H1, Nguyễn Trọng H6, Hoàng Văn H8 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần áp dụng hình phạt tù các bị cáo vẫn có khả năng tự cải tạo. Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước.
[5.5]. Đối với ông Phạm Huy P1 quá trình sự việc đốt pháo xảy ra, ông P1 có hành vi tác động chạm vào tràng pháo, tuy nhiên hành vi của ông P1 là ngăn cản, giằng lại tràng pháo từ H1, nên không có căn cứ để khởi tố đối với ông Phạm Huy P1.
[5.6]. Đối với vật chứng là bật lửa mà các bị cáo sử dụng để đốt pháo, sau khi đốt các bị cáo để đâu không nhớ, do vậy không thu hồi được nên không đặt ra giải quyết.
[5.7]. Về nguồn gốc bánh pháo bị cáo Đ trình bày có người cho pháo để trên ca bin tàu không biết ai cho nên không có căn cứ xá minh xử lý.
[6]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ các mảnh giấy màu đỏ, mép giấy rách nham nhở là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] . Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo: Trịnh Quang Đ, Nguyễn Trọng H2, Trịnh Văn C1, Trịnh Văn H1, Nguyễn Trọng H6, Hoàng Văn H8 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
* Về hình phạt:
1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H6 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21 tháng 02 năm 2024.
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trịnh Quang Đ 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm 6 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21 tháng 6 năm 2024.
1.3. Áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H2 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm 02 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21 tháng 6 năm 2024.
1.4. Áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trịnh Văn C1 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm 02 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21 tháng 6 năm 2024.
1.5. Áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trịnh Văn H1 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm 02 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21 tháng 6 năm 2024.
1.6. Áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H8 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21 tháng 6 năm 2024.
Giao bị cáo Trịnh Quang Đ, Nguyễn Trọng H2, Trịnh Văn H1, Hoàng Văn H8 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp các bị cáo Trịnh Quang Đ, Nguyễn Trọng H2, Trịnh Văn H1, Hoàng Văn H8 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Trịnh Văn C1, cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp các bị cáo Trịnh Văn C1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự
Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo Trịnh Quang Đ, Nguyễn Trọng H2, Trịnh Văn C1, Trịnh Văn H1, Hoàng Văn H8 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo Trịnh Quang Đ, Nguyễn Trọng H2, Trịnh Văn C1, Trịnh Văn H1, Hoàng Văn H8 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 1 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy các mảnh giấy màu đỏ, mép giấy rách nham nhở.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Trịnh Quang Đ, Nguyễn Trọng H2, Trịnh Văn C1, Trịnh Văn H1, Nguyễn Trọng H6, Hoàng Văn H8 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136 Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo Trịnh Quang Đ, Nguyễn Trọng H2, Trịnh Văn C1, Trịnh Văn H1, Nguyễn Trọng H6, Hoàng Văn H8 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án 21 tháng 6 năm 2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Việt Hưng |
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: gây rối trật tự công cộng
