Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21 - 6 - 2024

V/v: “Ly hôn”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Thành và bà Trần Thị Yến Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 172/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vương Thị N, sinh năm 1963;

Nơi cư trú: Tổ I, Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai;

- Bị đơn: Ông Trần Công H, sinh năm 1962;

Nơi cư trú: Tổ I, Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai;

(Các đương sự vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/4/2024 và lời khai trong thời gian chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn bà Vương Thị N trình bày:

Bà và ông Trần Công H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/01/2014. Sau khi kết hôn, ông H không chịu khó làm ăn, thường nhậu nhẹt say xỉn, về nhà chửi bới, kiếm chuyện và đập phá đồ đạc trong gia đình. Bản thân bà đã cố gắng khuyên can nhiều lần nhưng ông H vẫn không sửa đổi bản thân. Tình trạng mâu thuẫn kéo dài làm cho tình cảm vợ chồng không còn. Từ tháng 01/2024, vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Do tình cảm không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Công H.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng bà không có nợ chung bất kỳ ai nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại Bản tự khai và Đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, đề nghị vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và xét xử vắng mặt ghi ngày 15/5/2024, bị đơn ông Trần Công H trình bày:

Ông và bà Vương Thị N tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật vào năm 2014. Trong thời gian sống chung, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, bất hòa nên từ tháng 01/2024, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn ông cũng đồng ý ly hôn với bà Vương Thị N.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng ông không có nợ chung bất kỳ ai nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng trình tự tố tụng theo quy định đối với một phiên tòa sơ thẩm.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ: Điều 51, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 89, 91 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn: Cho bà Vương Thị N được ly hôn với ông Trần Công H; về con chung: Các đương sự không có con chung; về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết; về nợ chung: Không có; về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Xác định thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Công H cư trú tại Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ theo điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

[1.2] Xác định quan hệ pháp luật:N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông H. Vì vậy, quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.3] Xác định tư cách đương sự:N khởi kiện đối với ông H. Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà N là nguyên đơn, ông H là bị đơn trong vụ án.

[1.4] Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:

[2.1] Về hôn nhân: Các đương sự tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 04, ngày 27 tháng 01 năm 2014. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, khi bà N yêu cầu ly hôn thì Tòa án căn cứ Luật hôn nhân gia đình để giải quyết.

Trên cơ sở lời khai của đương sự và tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình tiến hành tố tụng thể hiện: Các đương sự sống chung nhưng có xảy ra mâu thuẫn, bất hòa làm cho tình cảm vợ chồng bị phai nhạt. Từ tháng 01/2024, các đương sự sống ly thân với nhau cho đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn nên bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông H cũng đồng ý ly hôn với bà N. Tuy nhiên, do các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án không ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa các đương sự.

Từ những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các đương sự đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ giữa vợ và chồng; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không được liên tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Các đương sự không có con chung nên Tòa án không giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Các đương sự khai không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí:Vương Thị N là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí nên được được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147; khoản 1 Điều 227, Điều 235, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

  • - Điều 39 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Điều 51, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điều 85, 89 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
  • - Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vương Thị N.

1.1. Về hôn nhân: Bà Vương Thị N được ly hôn với ông Trần Công H.

1.2. Về con chung: Các đương sự không có con chung nên Tòa án không giải quyết.

1.3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

1.4. Về nợ chung: Các đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Vương Thị N là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (Để thi hành);
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • - UBND xã Phú Lộc, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (Đăng ký kết hôn số 04 ngày 27/01/2014);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Lưu trữ cơ quan.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn

  • Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Nh yêu cầu ly hôn với ông H, con chung, tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger