Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2025/HS-ST

Ngày: 22/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bình

Ông Vũ Ngọc Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa:

Ông Võ Quang Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 63/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

Phan Văn Đ, sinh ngày 01/3/2004 tại thành phố Đà Nẵng; CCCD số: 049204008836; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Đ1 (chết) và bà Nguyễn Thị L; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 22/8/2025, tạm giam ngày 31/8/2025. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Anh Lương Ngọc Đ2, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Thôn Đ, phường Đ, tỉnh Quảng Trị. Nơi ở: Phòng A 504, KTX phía tây, số H H, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Thôn Y, xã V, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở: Phòng A 510, KTX phía tây, số H H, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 2006; Nơi cư trú: Phường K, tỉnh Quảng Ngãi. Nơi ở: Phòng A 510, KTX phía tây, số H H, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  4. Anh Cao Nhật N, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, tỉnh Quảng Trị. Nơi ở: Phòng A 506, KTX phía tây, số H H, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  5. Anh Lê Minh N1, sinh năm 2005; Nơi cư trú: B P, Tổ dân phố C, phường Đ, tỉnh Quảng Trị. Nơi ở: Phòng A 504, KTX phía tây, số H H, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  6. Anh Trần Hữu T, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Tổ F, khối phố M, phường B, thành phố Đà Nẵng. Nơi ở: Phòng B 427, KTX phía tây, số H H, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  7. Anh Đoàn Ngọc C1, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, thành phố Đà Nẵng. Nơi ở: Phòng C527, KTX phía tây, số H H, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  8. Anh Nguyễn Thanh V, sinh năm 2005; Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, thành phố Đà Nẵng. Nơi ở: Phòng C 527, KTX phía tây, số H H, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, tỉnh Đắk Lắk. Nơi ở hiện nay: A N, phường L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: A N, phường L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  3. Ông Nguyễn Minh Đ3, sinh năm 1979; Nơi cư trú: E N, phường L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  4. Anh Đặng Văn H2, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn L, xã L, tỉnh Quảng Trị. Nơi ở: A N, phường L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn Đ là sinh viên Trường Cao đẳng C2 đang ở tại Phòng 504 Khu A ký túc xá phía Tây TP. Đ, địa chỉ: Số H H, P. H, TP .. Trong khoảng thời gian từ ngày 19/8/2025 đến 22/8/2025, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Đ đi dạo quanh các phòng ở ký túc xá phía Tây TP. Đ xem ai sơ hở để trộm cắp tài sản đem bán hoặc cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể:

- Vụ thứ nhất: Khoảng 17 giờ ngày 19/8/2025, nhân lúc các bạn cùng phòng 504 Khu A của ký túc đi ra ngoài và Đ biết trong tủ đồ của anh Lương Ngọc Đ2 là bạn cùng phòng có 01 máy tính xách tay hiệu ASUS TUF Gaming màu đen nên Đ cạy cửa tủ lấy trộm máy tính xách tay của anh Đ2 và mang đến cơ sở dịch vụ cầm đồ Phúc Tịnh tại số A N, P. L, TP . cầm cố cho ông Nguyễn Văn T1 với số tiền 4.000.000 đồng, khi nhận cầm cố tài sản ông T1 có hỏi về nguồn gốc máy tính thì Đ nói máy tính của mình và cung cấp mật khẩu mở máy cho ông T1 kiểm tra (do trước đó Đ đã mượn máy tính của anh Đ2 để sử dụng nên biết mật khẩu). Số tiền có được từ việc cầm cố máy tính Đ đã tiêu xài cá nhân hết.

Theo Bản Kết luận định giá tài sản số: 96/KL-HĐĐGTS ngày 27/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP . kết luận: Máy tính xách tay hiệu ASUS TUF Gaming nói trên trị giá 10.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 20/8/2025, Đ leo theo lối lan can phía sau phòng của mình đi sang các phòng khác xem có ai sơ hở không khóa cửa sau để đột nhập vào trộm cắp tài sản. Khi Đ leo qua đến phòng 510 khu A thì thấy cửa sau mở, trong phòng không có người nên Đ đột nhập vào lấy trộm 01 máy tính xách tay hiệu Dell Latitude màu xám của anh Nguyễn Văn H và 01 máy tính xách tay hiệu ACER Gaming Aspire 5 màu xám của anh Nguyễn Văn C. Sau khi lấy trộm được tài sản, Đ đưa về phòng của mình, tại đây Đ mở 02 máy tính xách tay ra kiểm tra phát hiện máy tính hiệu A 5 không cài mật khẩu, còn máy tính xách tay hiệu D có cài mật khẩu nên Đ lên mạng xã hội xem hướng dẫn cách phá mật khẩu và thực hiện cài đặt lại mật khẩu của máy tính xách tay này. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Đ mang máy ACER Gaming Aspire 5 đến cơ sở dịch vụ cầm đồ Sáu Ly tại số A N, P. L, TP . cầm cố cho ông Nguyễn Văn H1 với số tiền 5.000.000 đồng. Sau đó, đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì Đ mang máy tính xách tay hiệu Dell Latitude đến cơ sở dịch vụ cầm đồ Minh Đ3 tại số E N, P. L, TP . để cầm cố cho ông Nguyễn Minh Đ3 với số tiền là 2.500.000 đồng. Tại thời điểm nhận cầm cố tài sản ông H1 và ông Đ3 có hỏi về nguồn gốc hai máy tính xách tay nói trên thì Đ nói các máy tính là của mình nên ông H1 và ông Đ3 không biết hai máy tính này là do Đ trộm cắp được mà có. Số tiền có được từ việc cầm cố hai máy tính Đ đã tiêu xài cá nhân hết.

Theo Bản Kết luận định giá tài sản số: 96/KL-HĐĐGTS ngày 27/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP . kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu Dell Latitude màu xám trị giá 7.000.000 đồng, 01 máy tính xách tay hiệu ACER Gaming Aspire 5 màu xám trị giá 10.000.000 đồng.

- Vụ thứ ba: Vào khoảng 19 giờ ngày 21/8/2025 Đ đang ở trong phòng 504 Khu A của ký túc xá phía tây thì thấy phòng 506 bên cạnh không có người nên Đ đi ra phía sau theo lối lan can đột nhập vào phòng bằng cửa sau rồi vào lấy trộm 01 máy hiệu ACER Aspire màu đen của anh Cao Nhật N và 01 máy tính xách tay hiệu HP Probook 450 màu đen của anh Lê Minh N1. Sau khi lấy trộm được tài sản Đ đưa hai máy tính về phòng của mình, đến khoảng 21 giờ cùng ngày Đ đưa đến cơ sở dịch vụ mua bán máy tính Rôn Store tại số A N, P. H, TP . bán cho anh Đặng Văn H2 với số tiền 3.300.000 đồng, khi mua tài sản anh H2 có hỏi về nguồn gốc hai máy tính này thì Đ nói máy tính của mình. Số tiền có được từ việc bán hai máy tính này Đ đã tiêu xài cá nhân hết.

Theo Bản Kết luận định giá tài sản số: 96/KL-HĐĐGTS ngày 27/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP . kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu HP Probook 450 màu đen trị giá là 5.000.000 đồng và 01 máy tính xách tay hiệu ACER Aspire màu đen trị giá 10.000.000 đồng.

- Vụ thứ tư: Khoảng 10 giờ ngày 22/8/2025, Đ đi đến phòng 427 khu B ký túc xá phía tây thì thấy cửa thông gió mở nên Đ leo lên lối cửa thông gió đột nhập vào phòng lấy trộm 01 máy tính xách tay hiệu Dell Vostro 3500 Core i7 màu đen và 01 ba lô màu đen có dòng chữ "WWINDIFE91" của anh Trần Hữu T. Sau khi lấy trộm được tài sản Đ trèo ra ngoài và mang máy tính xách tay lên phòng kho tầng 6 khu A của ký túc xá cất giấu rồi mang theo ba lô tiếp tục đi qua tầng 5 khu C của ký túc xá để trộm cắp tài sản. Sau đó, Đ trèo qua ban công phía sau đột nhập vào phòng 527 lấy trộm 01 máy tính xách tay hiệu ASUS X515EP-BQ529 màu xám của anh Đoàn Ngọc C1 và 01 máy tính xách tay hiệu Gigabyte Gaming màu đen của anh Nguyễn Thanh V. Đ bỏ hai máy tính vừa trộm được vào ba lô rồi leo ra ngoài, khi đi đến khu vực tầng 4 khu A của ký túc xá thì bị lực lượng Công an phường H phát hiện và mời về làm việc. Tại Cơ quan Công an Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nói trên.

Theo Bản Kết luận định giá tài sản số: 96/KL-HĐĐGTS ngày 27/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu ASUS X515EP- BQ529W màu xám trị giá 7.000.000 đồng, 01 máy tính xách tay hiệu Dell Vostro 3500 Core i7 màu đen trị giá 7.000.000 đồng và 01 máy tính xách tay hiệu Gigabyte Gaming màu đen trị giá 12.000.000 đồng. Đối với 01 ba lô màu đen có dòng chữ "WWINDIFE91" không xác định được giá trị.

Tổng giá trị tài sản mà Phan Văn Đ đã chiếm đoạt của các lần trộm cắp nói trên trị giá 68.000.000 đồng (sáu mươi tám triệu đồng).

* Vật chứng tạm giữ:

Thu giữ của Phan Văn Đ:

  • + 01 ba lô màu đen có dòng chữ "WWINDIFE 91' bên trong có 01 máy tính xách tay hiệu ASUS X515EP-BQ529 màu xám và 01 máy tính xách tay hiệu Gigabyte Gaming màu đen.
  • + 01 máy tính xách tay hiệu hiệu Dell Vostro 3500 Core i7 màu đen.
  • + 01 điện thoại Samsung A21S gắn thẻ sim 0379276557 và thẻ sim số 0788551304, có Số IMEL 351662/61/181230/8.

Thu giữ tại các tiệm cầm đồ:

  • + 01 máy hiệu ACER Aspire màu đen.
  • + 01 máy tính xách tay hiệu HP Probook 450 màu đen.
  • + 01 máy tính xách tay hiệu Dell Latitude màu xám. + 01 máy tính xách tay hiệu ACER Gaming Aspire 5 màu xám.
  • + 01 máy tính xách tay hiệu ASUS TUF Gaming màu đen.
  • + 03 đĩa DVD ghi lại hình ảnh Phan Văn Đ đưa tài sản trộm cắp được đến các tiệm cầm cố để tiêu thụ vào các ngày 19, 20 và 21/8/2025.

- Ngày 06/10/2025, Cơ quan CSĐT Công an T3 ra Quyết định xử lý vật chứng số: A4269/QĐ-VPCQCSĐT bằng hình thức: Trả lại máy tính xách tay hiệu 01 máy hiệu ACER Aspire màu đen cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Cao Nhật N. Trả lại máy tính xách tay hiệu hiệu Dell Vostro 3500 Core i7 màu đen cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Hữu T. Trả trả máy tính xách tay hiệu ASUS TUF Gaming màu đen cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lương Ngọc Đ2. Trả lại máy tính xách tay hiệu Gigabyte Gaming màu đen cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Thanh V. Trả lại máy tính xách tay hiệu Dell Latitude màu xám cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn H. Trả lại máy tính xách tay hiệu HP Probook 450 màu đen cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Minh N1. Trả lại máy tính xách tay hiệu ACER Gaming Aspire 5 màu xám cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn C. Trả lại máy tính xách tay hiệu ASUS X515EP-BQ529 màu xám cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đoàn Ngọc C1.

Bản cáo trạng số: 10/CT-VKSKV4 ngày 12 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phan Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã đề cập; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo 01 điện thoại hiệu Samsung A21S gắn thẻ sim 0379276557 và thẻ sim số 0788551304, có Số IMEL 351662/61/181230/8 nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận diễn biến vụ án đúng như cáo trạng đã đề cập. Bị cáo không có ý kiến gì về mặt tội danh cũng như điều luật mà đại diện Viện kiểm sát truy tố và đề nghị áp dụng, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tất cả các bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm đồng thời có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Minh Đ3 và anh Đặng Văn H2 đã nhận lại từ gia đình bị cáo số tiền đã bán và nhận cầm cố tài sản cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ ngày 19/8/2025 đến ngày 22/8/2025, tại ký túc xá phía Tây thành phố Đ, địa chỉ: Số H đường H, phường H, thành phố Đà Nẵng bị cáo Phan Văn Đ đã có hành vi trộm cắp 08 máy tính xách tay của các bị hại anh Lương Ngọc Đ2, anh Cao Nhật N, anh Trần Hữu T, anh Nguyễn Thanh V, anh Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Văn C, anh Đoàn Ngọc C1 và anh Lê Minh N1. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt được của các bị hại là 68.000.000 đồng (sáu mươi tám triệu đồng). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 10/CT-VKSKV4 ngày 12 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện nhiều lần trộm cắp tài sản, giá trị tài sản trộm cắp được của mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; khi bị bắt giữ bị cáo đã tự thú khai báo ra những lần phạm tội trước; bị hại có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là sinh viên nhưng không lo tu dưỡng học hành mà lại sa vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an của xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó cần thiết xét xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp mới có tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng xem xét cho bị cáo vì bị cáo lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự để quyết định cho bị cáo mức hình phạt ở khoảng đầu của khung hình phạt là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A21S gắn thẻ sim 0379276557 và thẻ sim số 0788551304, có Số IMEL 351662/61/181230/8 của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
  2. Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt, tạm giữ ngày 22/8/2025.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  4. Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A21S gắn thẻ sim 0379276557 và thẻ sim số 0788551304, có Số IMEL 351662/61/181230/8 của bị cáo Phan Văn Đ để đảm bảo thi hành án.

    (Vật chứng trên hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/12/2025).

  5. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
  6. Buộc bị cáo Phan Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 4 – Đà Nẵng;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra C3;
  • - THA dân sự thành phố Đà Nẵng;
  • - Phân trại tạm giam Hòa Khánh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/HS-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 83/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn Đ trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger