Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 83/2024/HSST

Ngày 15-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Rẽn

2. Ông Nguyễn Hồng Phúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đình Lưỡng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hồng H (Mực); sinh ngày 21 tháng 11 năm 2001, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: chạy xe ôm; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B (chết) và bà Trần Thị Mỹ L; vợ: chưa có; nhân thân: ngày 19/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành án xong ngày 30-8-2020 (đã xóa án); tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08-5-2024; có mặt.

2. Lê Thanh T; sinh ngày 16 tháng 4 năm 1981, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An; nơi cư trú: ấp V, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: chạy xe ôm; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hùng M (chết) và bà Trương Thị H1; vợ: Nguyễn Thị Thanh V; có 02 người con; nhân thân: ngày 30/6/2019, bị Công an xã B, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” số tiền 1.000.000 đồng (đã nộp phạt). Ngày 17/7/2020, bị Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, chấp hành xong ngày 19/10/2020; tiền án: không có; tiền sự: tại Quyết định số 05/QĐ-TA ngày 01/02/2021, của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng, chấp hành xong ngày 18/9/2023 (chưa hết thời hạn được coi là chưa áp dụng biện pháp xử lý hành chính); bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08-5-2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 14 giờ 30 phút ngày 07/5/2024, Nguyễn Hồng H cùng với người thanh niên tên Đ (không rõ họ tên, lai lịch) đến nhà do Lê Thanh T thuê thuộc ấp V, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì thấy T đang nằm ngủ. Đỉnh lấy một đoạn ống hút có chứa chất ma tuý và bộ D sử dụng ma tuý mang theo ra đổ một phần ma tuý vào ụ tròn của ống thuỷ tinh (tẩu) sử dụng rồi đưa cho H sử dụng. Phần ma tuý còn lại, Đ bỏ dưới nệm trong phòng của T rồi cả hai bỏ đi. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, H và Đ quay lại, H rủ T sử dụng ma tuý, thì T đồng ý. H đốt ma tuý sử dụng, rồi sau đó đưa cho Đ, T sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, Đ cho H số ma tuý còn lại và bộ D sử dụng ma túy, H lấy cất giấu dưới nệm trong phòng ngủ của T rồi lấy xe chở Đ đến khu vực Cửa khẩu Quốc tế M, Đ xuống xe và đi đâu không rõ, H ở lại khu vực Cửa khẩu Quốc tế M1 chạy xe ôm đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì về nhà thuê của T thấy T đang ngồi nói chuyện với Phạm Minh H2, sinh ngày 24/12/2006 và Giáp Minh Đ1, sinh ngày 11/11/2007. T rủ H2 và Đ1 vào sử dụng ma túy cùng với H, thì H2 và Đ1 đồng ý. H lấy ma tuý của Đ cho ra sử dụng rồi đưa cho H2 và Đ1 sử dụng.

Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 08/5/2024, T lấy ma túy ra sử dụng rồi đưa cho H2, H và Đ1 lần lượt sử dụng thì bắt quả tang.

Ngày 08/5/2024, xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Hồng H, Lê Thanh T, Phạm Minh H2, Giáp Minh Đ1 cho kết quả: dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số: 922/KL-KTHS, ngày 16/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: mẫu chất tinh thể rắn (kí hiệu M) bên trong 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt có một ụ tròn gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,0215 gam.

Tại Bản cáo trạng số: 78/CT-VKSBC ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu truy tố các bị cáo Nguyễn Hồng H, Lê Thanh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hồng H, Lê Thanh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng H từ 10 đến 11 năm tù.

2

Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 10 đến 11 năm tù.

Biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: vật chứng thu giữ tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Bị cáo H, T không tranh luận và nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: tại phiên tòa các bị cáo H, T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của Phạm Minh H2, Giáp Minh Đ1; biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác, có đủ căn cứ xác định. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 07/5/2024, H cùng với người thanh niên tên Đ (không rõ họ tên, lai lịch) đến nhà của T thuê tại ấp V, xã A, huyện B, thì thấy T đang nằm ngủ. Đỉnh lấy ma tuý mang theo ra sử dụng rồi đưa cho H sử dụng. Phần ma tuý còn lại, Đ bỏ dưới nệm trong phòng của T rồi cả hai đi ra ngoài. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, H và Đ quay lại, H rủ T sử dụng ma tuý, thì T đồng ý. H đốt ma tuý sử dụng, rồi sau đó đưa cho Đ, T sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, Đ cho H số ma tuý còn lại, H cất giấu dưới nệm trong phòng ngủ của T rồi chở Đ đến khu vực Cửa khẩu Quốc tế M, Đ xuống xe và đi đâu không rõ. H ở lại khu vực cửa khẩu Quốc tế M1 chạy xe ôm đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì quay về nhà thấy T đang ngồi nói chuyện với Phạm Minh H2, sinh ngày 24/12/2006 và Giáp Minh Đ1, sinh ngày 11/11/2007. T rủ H2 và Đ1 sử dụng ma túy cùng với H, thì H2 và Đ1 đồng ý. H lấy ma tuý của Đ cho ra sử dụng rồi đưa cho H2 và Đ1 sử dụng. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 08/5/2024, T tiếp tục lấy ma túy ra sử dụng rồi đưa cho H2, H và Đ1 lần lượt sử dụng thì bắt quả tang. Ngày 08/5/2024, xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với H, T, Phạm Minh H2, Giáp Minh Đ1 cho kết quả: dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine. Kết quả giám định; mẫu chất tinh thể rắn (kí hiệu M) bên trong 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt có một ụ tròn gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,0215 gam. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Hồng H và Lê Thanh T đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

3

[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo biết việc tổ chức, sử dụng ma túy nhà nước cấm, nhưng bị cáo rủ nhiều người khác tham gia sử dụng nhiều lần, trong đó có người dưới 18 tuổi, thể hiện tính xem thường pháp luật; gây mất trật tự trị an tại địa phương; các bị cáo có nhân thân xấu, cần xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét:

[4.1] Tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khai ra những lần phạm tội trước đó; đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Vật chứng: 01 gói được niêm phong vụ số: 922/KL-KTHS; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng; nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hồng H (Mực), Lê Thanh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng H 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-5-2024.

3. Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-5-2024.

4. Các biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong vụ số: 922/KL-KTHS; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

5. Về án phí: bị cáo Nguyễn Hồng H (Mực), Lê Thanh T mỗi người phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - CQĐT Công an huyện Bến Cầu;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Cầu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an cấp xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HSST ngày 15/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 83/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NG HONG HAU- dp- - TO CHUC SD MA TUY
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger